- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố MT PS"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Sùng Thị S (Sinh năm 1994; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn PL, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang) mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| –––––––––– Số: 01/2022/QĐST-DS | Đ, ngày 11 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Văn Đàm
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Giàng Mí P - Sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn PL, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (Có mặt);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Sùng Thị S - Sinh năm 1994; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn PL, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Hiện nay vẫn biệt tích.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu đề ngày 29/12/2021, cùng các tài liệu kèm theo đơn và tại phiên họp, người yêu cầu là anh Giàng Mí P trình bày: Anh và chị Sùng Thị S kết hôn với nhau ngày 11/8/2014 và đăng ký kết hôn theo quy định. Anh chị sống chung hạnh phúc được khoảng ba năm. Đến tháng 11 năm 2017(anh không nhớ ngày), chị S nói với anh là về nhà mẹ đẻ ở thôn NT, xã ML, huyện Đ, tỉnh Hà Giang chơi, hôm sau anh gọi điện cho mẹ vợ hỏi thăm xem chị S đã vào đến nơi chưa thì mẹ vợ nói không thấy chị S vào anh P và gia đình đã đi tìm và áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm như báo cho chính quyền địa phương, thông báo cho bạn bè và người thân hai bên nội, ngoại nhưng đến nay không ai có thông tin gì về việc chị S hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy, anh P làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích.
Tại phiên họp, anh Giàng Mí P vẫn giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Yêu cầu của anh Giàng Mí P về việc tuyên bố vợ mình là chị Sùng Thị S mất tích là có căn cứ. Chị Sùng Thị S đã bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 11/2017 đến nay không có tin tức gì, mặc dù anh P đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm, Tòa án nhân dân huyện Đ đã tiến hành việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo đúng thủ tục tố tụng dân sự nhưng vẫn không xác định được chị Sùng Thị S hiện đang ở đâu, làm gì. Do vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh Giàng Mí P về việc tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Giàng Mí P về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung việc dân sự: Anh Giàng Mí P và chị và chị Sùng Thị S kết hôn với nhau ngày 11/8/2014 và đăng ký kết hôn theo quy định. Anh chị sống chung hạnh phúc được khoảng ba năm. Đến tháng 11 năm 2017, chị Súng nói là về nhà mẹ đẻ ở thôn NT, xã ML, huyện Đ, tỉnh Hà Giang chơi nhưng đã tự ý bỏ đi biệt tích đến nay không về. Ngày 17/02/2022, Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý đơn yêu cầu của anh P về việc tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích, đồng thời ngày 18/02/2022, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Sùng Thị S. Thông báo tìm kiếm chị Sùng Thị S đã được đăng trên Báo Công lý ba số liên tiếp: 017 (879) ngày 01/3/2022; 018 (880) ngày 04/3/2022; 019 (881) ngày 08/3/2022 và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút trong ba ngày liên tiếp 03, 04 và 05 tháng 3 năm 2022; đăng thường xuyên trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Đến nay, đã hết thời hạn bốn tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chị S ở đâu, còn sống hay đã chết. Do vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Giàng Mí P về việc tuyên bố chị Sùng Thị S mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về lệ phí: Do anh Giàng Mí P là người dân tộc thiểu số, sinh sống xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cấu là anh Giàng Mí P chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Giàng Mí P, chị Sùng Thị S được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại Điều 371 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 12; khoản 5 Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ khoản 2 Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Tuyên bố chị Sùng Thị S (Sinh năm 1994; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn PL, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang) mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Giàng Mí P được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.038.500 đồng (ba triệu không trăm ba mươi tám nghìn năm trăm đồng), trong đó 3.000.000 đồng là tiền chi phí đăng, phát thông báo; 38.500 đồng phí chuyển tiền qua Ngân hàng, do anh Giàng Mí P chịu (anh P đã nộp đủ để thực hiện việc đăng, phát thông báo).
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Giàng Mí P có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; chị Sùng Thị S có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Hà Giang; - TAND tỉnh Hà Giang; - Anh P; chị S; - UBND thị trấn Đ; - Lưu hồ sơ VDS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bùi Văn Đàm |