vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng mất tích.

Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mất tích của chị Nguyễn Thị Ú. Lệ phí và chi phí giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT TIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
-------------------
Số: 01/2022/QĐST-DS
Cát Tiên, ngày 24 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hiền.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Ông Nông Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 30/2022/TLST-VDS ngày 13/6/2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2022/QĐST – DS ngày 11 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Bà Trần Thị C, sinh năm 1955

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: Tổ Dân Phố 14, thị trấn C, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị U, sinh năm: 1988

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1976

Nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lăk. Có mặt;

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1980

Nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lăk. Có mặt;

- Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Tổ Dân Phố 8, thị trấn Q, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lăk. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và lời khai của bà Trần Thị C trình bày thì: bà và chị Nguyễn Thị U có quan hệ mẹ con. Vào cuối năm 2013, chị Ú xin đi bán vé số ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng đi từ đó đến nay không rõ tung tích. Bà Trần Thị C và gia đình đã tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Ú theo quy định của pháp luật để bà có thể làm các thủ tục liên quan đến bảo trợ xã hội cho cháu gái là Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 15/5/2010 là con gái của chị Nguyễn Thị Ú hiện nay đang sinh sống với bà; Hơn nữa chồng của bà, bố của chị Ú là ông Nguyễn Văn B chết vào năm 2018, bà C và ông B có tạo lập được một khối tài sản chung nhưng ông B chết không để lại di chúc. Hiện nay bà C muốn bán một phần di sản do ông B để lại đã được các thành viên trong gia đình đồng ý nhưng thiếu chữ ký của chị Nguyễn Thị Ú.

Theo đơn yêu cầu và lời khai của chị Nguyễn Thị C trình bày thì chị có quan hệ chị em ruột với chị Nguyễn Thị Ú. Chị C thống nhất với yêu cầu của bà C, vào cuối năm 2013 chị Ú xin đi bán vé số ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng đi từ đó đến nay không rõ tung tích. Gia đình đã tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Ú. Nay chị và mẹ là bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Ú theo quy định của pháp luật.

Tại đơn trình bày, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị H thống nhất trình bày: Chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1988 là em gái ruột của các anh, chị. Vào năm 2013, chị Ú bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Mặc dù gia đình, bố của các anh, chị khi còn sống đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không rõ tin tức gì của chị Ú. Nay mẹ của các anh, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Ú để làm các thủ tục liên quan đến bảo trợ xã hội cho cháu gái là Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 15/5/2010 là con gái của chị Nguyễn Thị Ú hiện nay đang sinh sống với bà C và làm thủ tục bán một phần di sản do bố của các anh, chị chết vào năm 2018 mà không để lại di chúc thì các anh, chị không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh T, anh S, anh A, chị H thống nhất với yêu cầu của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C.

Tại phiên họp, bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích để bà, chị làm căn cứ làm các thủ tục liên quan đến bảo trợ xã hội cho cháu Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 15/5/2010 là con gái của chị Nguyễn Thị Ú và làm thủ tục bán một phần di sản do ông Nguyễn Văn B chết vào năm 2018 mà không để lại di chúc. Ngoài ra bà C, chị C không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp, anh T, anh S, anh A, chị H thống nhất với yêu cầu của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Tiên phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp hôm nay, Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điều điều 68 của Bộ luật dân sự và điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự: căn cứ vào khoản 3 điều 27; điểm a khoản 2 điều 35; điểm b khoản 2 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Ú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên nhận định:

Về tố tụng: Bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích, đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 điều 27; điểm a khoản 2 điều 35; điểm b khoản 2 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Yêu cầu của bà C, chị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.

Về nội dung: Theo đơn yêu cầu, biên bản lấy lời khai của bà C, bản tự khai của chị C cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Ú là con gái của bà Trần Thị C, chị gái của chị Nguyễn Thị C, là em gái của anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị H. Vào năm 2013 chị Nguyễn Thị Ú bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Mặc dù gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không rõ tung tích của chị Ú còn sống hay đã chết. Nay bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị Ú yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Ú theo quy định của pháp luật để bà C, chị C có thể làm các thủ tục liên quan đến bảo trợ xã hội cho cháu Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 15/5/2010 là con gái của chị Nguyễn Thị Ú và bán một phần di sản do ông Nguyễn Văn B là chồng của bà C và bố của chị C chết nhưng không để lại di chúc để cho bà C và cháu M sinh sống.

Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về chị Nguyễn Thị Ú trên phương tiện thông tin đại chúng theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, kể từ ngày đăng tin đầu tiên đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Ú. Theo xác nhận của Công an xã Đ, huyện Cát Tiên thì chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1988, trú tại Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên và đi khỏi nơi cư trú từ từ năm 2013 đến nay chưa về. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích.

Về lệ phí và chi phí đăng tin: Bà Trần Thị C đã hết tuổi lao động, thuộc diện hộ khó khăn, có đơn xin miễn án phí, lệ phí nên được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm; Chị Nguyễn Thị C phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C phải chịu tiền chi phí đăng tin theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 149, 387, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 2, xã Đ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng mất tích.

Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mất tích của chị Nguyễn Thị Ú.

2. Lệ phí và chi phí giải quyết việc dân sự:

Bà Trần Thị C được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.

Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0000718 ngày 13 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Tiên.

Về chi phí đăng tin: Bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C phải chịu 3.675.000 đồng (Ba triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) chi phí đăng tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị Ú. Số tiền này bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C đã nộp và đã quyết toán xong.

3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thời hạn kháng cáo, kháng nghị là 10 (mười) ngày, đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ