vanban.org

Quyết định 01/2022/QĐ-TA

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/01/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng Nguyễn Văn T2 có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh B có quyền kiến nghị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2022/QĐ-TAT, ngày 11 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Lài.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Yến.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 20/QĐ-TA ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T2;

Giới tính: Nam.

Sinh năm 1995.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Hòa Hảo.

Trình độ học vấn: 10/12.

Nguyên quán: An Giang.

Hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã T, huyện P, tỉnh A.

Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: không; tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Văn B và bà Bùi Thị Lệ T.

(Nguyễn Văn T2 có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Tiền Giang - Cán bộ Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh B: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.

3. Người tham gia khác: không có.

NHẬN THẤY:

Ngày 02/11/2021, Công an phường K phát hiện ông Nguyễn Văn T2 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Công an phường K, ông Nguyễn Văn T2 khai nhận bản thân có sử dụng ma túy từ khoảng tháng 10 năm 2020 và lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 02/11/2021. Công an phường K đã phối hợp với Công an thị xã T và Trung tâm Y tế thị xã T xác định tình trạng nghiện ma túy của ông Nguyễn Văn T2. Kết quả xét nghiệm của Trung tâm Y tế thị xã T kết luận ông Nguyễn Văn T2 dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 02/11/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K, thị xã T đã ban hành Quyết định số 2206/QĐ-UBND về việc giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại hồ sơ thể hiện, ông Nguyễn Văn T2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: xã T, huyện P, tỉnh A nhưng không sinh sống tại địa chỉ trên và không có nơi cư trú ổn định trên địa bàn thuộc Công an phường K quản lý. Ngày 02/11/2021, Công an phường K đã có văn bản đề nghị Công an xã T, huyện P, tỉnh A hỗ trợ xác minh lý lịch của ông Nguyễn Văn T2 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản trả lời. Do đó, có căn cứ xác định người bị đề nghị Nguyễn Văn T2 không có nơi cư trú ổn định theo Điều 2 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp xét:

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T: Đề nghị đưa đối tượng Nguyễn Văn T2 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 (Mười hai) tháng đến 14 (Mười bốn) tháng; địa điểm cai nghiện: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B; địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện P, tỉnh B.

- Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

+ Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, cơ quan đề nghị và những người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

+ Về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ông Nguyễn Văn T2 sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng tháng 10 năm 2020; ông Nguyễn Văn T2 không có nơi cư trú ổn định nên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T đề nghị đưa ông Nguyễn Văn T2 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 (Mười hai) tháng đến 14 (Mười bốn) tháng là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận.

- Ý kiến người bị đề nghị: Nguyễn Văn T2 bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 10 năm 2020 cho đến ngày bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Người bị đề nghị thống nhất không có ý kiến về đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh B.

XÉT THẤY:

Xét lời trình bày và thừa nhận của ông Nguyễn Văn T2 tại phiên họp là phù hợp với biên bản vi phạm hành chính ngày 02/11/2021 của Công an phường K, thị xã T, tỉnh B là có sử dụng ma túy; sau khi đối chiếu toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy đã có đủ cơ sở kết luận ông Nguyễn Văn T2 là người nghiện ma túy.

Xét việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông Nguyễn Văn T2 hiện không có nơi cư trú ổn định, thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T2 là đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 4, 8, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét tình trạng nghiện ma túy của ông Nguyễn Văn T2 là cần được điều trị cắt cơn và phục hồi sức khỏe. Việc ông Nguyễn Văn T2 không nơi cư trú ổn định sẽ khó khăn trong việc tự điều trị cai nghiện nên xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B là cần thiết và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng Nguyễn Văn T2 có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T, tỉnh B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh B có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã T, tỉnh B chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã T đưa Nguyễn Văn T2 vào cai nghiện bắt buộc tại Cở sở cai nghiện ma túy tỉnh B.

Cỡ chữ