- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” của ông Hòang Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐST-VDS | T, ngày 01 tháng 03 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Mai Hằng.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Anh Đào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/TLST-VDS ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2021/QĐST-VDS ngày 22 tháng 02 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hòang Văn T2, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu ông Hng Văn T trình bày:
Ông Hòang Văn T có mẹ đẻ là bà Lê Thị H, sinh năm 1955, trú tại thôn 10 (nay là thôn L), xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Bố đẻ của bà H là ông Lê Đình Yên, đã chết năm 2009 và mẹ đẻ của bà H là bà Trần Thị V, đã chết năm 2017. Bà H không có chồng, bà có hai con đẻ là ông Hoàng Văn T và ông Hòang Văn T2. Tháng 4 năm 1990, bà Lê Thị H bỏ đi khỏi địa phương không thông báo cho gia đình và chính quyền xã, đi đâu không ai biết. Gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì của bà H. Vì vậy, ông Hòang Văn T yêu cầu Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái tuyên bố bà Lê Thị H mất tích.
Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái cũng xác nhận bà Lê Thị H, sinh năm 1955, nơi đăng ký hộ khẩu cuối cùng: Thôn 10 (Nay là thôn L), xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái đã bỏ nhà đi từ tháng 4 năm 1990 đến nay không có tin tức gì.
Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái đã thông báo tìm kiếm bà Lê Thị H theo quy định của pháp luật, cụ thể:
Báo Công lý các số 85 (1832), số 86 (1833), số 87 (1834) ra các ngày 21, 23, 28/10/2020 đăng tin tìm kiếm bà Lê Thị H; Đài tiếng nói Việt Nam phát tin nhắn tìm bà Lê Thị H vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 22, 23, 24/10/2020 nhưng đến nay vẫn chưa có tin tức gì của bà Lê Thị H.
Tại phiên họp, ông Hòang Văn T giữ nguyên yêu cầu đề nghị tuyên bố bà Lê Thị H mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị áp dụng Điều 149, Điều 369, Điều 370, Điều 387, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của ông Hòang Văn T yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị H mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái nhận định:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền tố tụng: Ông Hòang Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị H là người có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi bỏ đi là thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái.
Về nội dung: Bà Lê Thị H đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 1990 đến nay đã được chính quyền địa phương xác nhận. Trước khi yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị H mất tích, ông Hòang Văn T đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm địa chỉ của bà nhưng không có tin tức gì.
Tòa án nhân huyện T đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đã được thông báo trên Báo Công lý, trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày Báo, Đài phát thông báo lần đầu tiên, nhưng không có tin tức gì của bà Lê Thị H. Do đó, chấp nhận yêu cầu của ông Hòang Văn T, tuyên bố bà Lê Thị H mất tích.
Về lệ phí: Căn cứ Ðiều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Hng Văn T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” của ông Hòang Văn T.
Tuyên bố: Bà Lê Thị H, sinh năm 1955, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn 10 (nay là thôn L), xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái mất tích.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hòang Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0007869 ngày 01/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Yên Bái.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra Quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Chi cục THADS huyện T; - TAND tỉnh Yên Bái; - Người yêu cầu; - UBND xã V; - Lưu: HS, TA, KT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Phạm Mai Hằng |