- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐST-DS | Tp, Bạc Liêu, ngày 19 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Minh Tân
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thảo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên họp: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành mở phiên họp công khai sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số 403/2020/TLST-VDS ngày 24 tháng 11 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2021/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lâm Văn N, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1957.
Cùng địa chỉ: Số 017/4, ấp X, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (ông N, bà N1 có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 và cháu Lâm Thị Ngọc M, sinh năm 2006. Cùng đăng ký thường trú: Ấp X, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Bà L có ý kiến yêu cầu vắng mặt; cháu M vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 thống nhất trình bày: Bà Nguyễn Thị L là em dâu của ông N, là vợ của ông Lâm Văn Chiến, sinh năm 1959, địa chỉ: ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, ông Chiến chết năm 2010, còn cháu Lâm Thị Ngọc M, sinh năm 2006 là con ruột của ông Chiến và bà L. Vào khoảng tháng 10 (âm lịch) năm 2010, sau khi ông Chiến chết ngày 29/9/2010 (âm lịch) chưa đầy một tháng thì bà L bán đồ đạt trong nhà và dẫn con là cháu M đi khỏi nhà. Đến năm 2012, chúng tôi không nhớ rõ chính xác ngày tháng nào bà L với một vài người khác có về ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu kêu bán phần đất của gia đình. Khi đó ông N phát hiện và ngăn cản vì đất này là của cha mẹ để lại không cho bà L bán. Qua ngày hôm sau bà L có đến Ủy ban nhân dân xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu trình báo gì đó nhưng không thấy ai đến làm việc, rồi từ đó bà L đi khỏi địa phương đến nay không quay về nhà tại ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Hiện chúng tôi (N, N1) đang quản lý diện tích đất ở và đất vườn khoảng 10 công tầm cấy, do ông Lâm Văn Chiến đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này do cụ Trần Thị Trâm là mẹ ruột của tôi (N), ông Lâm Văn Chiến và bà Lâm Thị Dung (ông Chiến, bà Dung đã chết) khi để lại đất bà Trâm có làm di chúc là cho bà Dung 02 công tầm cấy, cho hai người con của tôi (N) 01 công tầm cấy, còn lại 07 công tầm cấy để cho ông Chiến thờ cúng ông, bà, cha, mẹ. Do ông Chiến, bà Dung đều đã chết, bà L thì bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có tin tức gì. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích để gia đình chúng tôi giải quyết việc đất đai.
Về căn cứ để yêu cầu thì chúng tôi đã thực hiện việc đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đúng theo quy định.
- Tại phiên họp, Kiểm sát viên – Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ việc:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, người tham gia phiên họp đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp.
+ Về nội dung: Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xét đơn yêu cầu của ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 thì là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Bà L, cháu M là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị L có yêu cầu vắng mặt phiên họp. Xét thấy bà L đã có ý kiến trình bày, cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu cho Tòa án, còn cháu M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định.
Về yêu cầu của đương sự: Theo đơn yêu cầu và biên bản lấy lời khai ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích.
Xét thấy: Tại biên bản xác minh ngày 15 tháng 4 năm 2021 đối với ông Nguyễn Văn Dành, là Trưởng ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu thể hiện: Trước đây bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 và cháu Lâm Thị Ngọc M sinh năm 2006 có đăng ký thường trú tại ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, tuy nhiên từ năm 2010 đến nay bà L và cháu M không còn sinh sống ở địa phương, hiện bà L và cháu M sống ở đâu, làm gì thì địa phương không biết. Mặc dù không còn sống ở địa phương nhưng bà L và cháu M thỉnh thoảng có về địa phương, lần gần nhất ông Dành thấy bà L và cháu M về địa phương là khoảng tháng 10 năm 2020, do đó mặc dù không còn sinh sống ở địa phương nhưng bà L và cháu M không biệt tích.
Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai đối với bà Nguyễn Thị L vào ngày 11/5/2021, bản tự khai và trình bày ý kiến của bà Nguyễn Thị L cùng ngày 11/5/2021 thể hiện: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 có đăng ký kết hôn với ông Lâm Văn Chiến, sinh năm 1959 vào ngày 11/6/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng và có đăng ký thường trú tại số 17/4, ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu, đến ngày 30/12/2006 thì bà L sinh cháu Lâm Thị Ngọc M là con ruột của ông Lâm Văn Chiến và bà Nguyễn Thị L. Đến ngày 29/9/2010 (âm lịch) chồng bà L là ông Lâm Văn Chiến bị tại nạn lao động chết. Do cuộc sống gia đình khó khăn nên năm 2011 bà L dẫn cháu M về sống với cha mẹ ruột ở ấp Năm Căn, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, sau đó gửi cháu M cho ông bà ngoại rồi đi làm công nhân ở tỉnh Long An, mặc dù đi làm ăn xa nhưng có về nhà khi có đám tiệc, Lễ, Tết hoặc khi cần thiết, bà L vẫn có về tới lui địa phương ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu. Hiện nay bà Nguyễn Thị L đã nghỉ làm công nhân và về sinh sống tại ấp Năm Căn, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng khoảng 06 (sáu) tháng nay. Đối với cháu Lâm Thị Ngọc M thì hiện nay đã nghĩ học và đi làm cùng chị gái tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4 năm 2021 đến nay.
Như vậy, bà Nguyễn Thị L không còn sinh sống tại địa phương ấp Xóm Lẫm, xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu từ năm 2011, nhưng thỉnh thoảng vẫn có về và hiện nay bà Nguyễn Thị L đang sinh sống tại ấp Năm Căn, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Đối với cháu Lâm Thị Ngọc M thì sinh sống tại ấp Năm Căn, xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng từ năm 2011 đến tháng 4 năm 2021 mới đi làm công nhân tại thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những căn cứ nêu trên cho thấy bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M chưa đủ điều kiện tuyên bố một người mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ Luật dân sự năm 2015, do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.
Về lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 đã trên 60 tuổi là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp miễn nộp lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39, Điều 361, 371, 372, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị L và cháu Lâm Thị Ngọc M mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: ông Lâm Văn N và bà Nguyễn Thị N1 thuộc trường hợp miễn nộp lệ phí Tòa án.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu - Viện Kiểm nhân dân dân tỉnh Bạc Liêu; - Viện Kiểm nhân dân dân Tp. Bạc Liêu; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Trần Minh Tân |