- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Hạng Mí P yêu cầu chị Thào Thị S mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hạng Mí P.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐST-DS | Q, ngày 23 tháng 02 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Danh Nhân
Thư ký phiên họp: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 09/2020/TLST-DS. ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Hạng Mí P, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
- Người có quyền lợi liên quan (bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Chị Thào Thị S, sinh năm: 1983; Nơi cư trú sau cùng trước khi biệt tích: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 08/10/2020 và tại phiên họp anh Hạng Mí P trình bày: Tôi và chị Thào Thị S, sinh năm 1983, trú tại thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang, được Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang tổ chức cho đăng ký kết hôn ngày 24/02/2003 và có 2 con chung là cháu: Hạng Văn T1, sinh ngày 21/12/2008 và Hạng Văn T2, sinh ngày 21/8/2010, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, ngày 28/8/2015 vợ tôi Thào Thị S tự ý bỏ nhà đi biệt tích đến nay không về, thời gian vợ tôi bỏ đi, tôi đang làm thuê bên xã L, huyện Q nên không có nhà, lý do vợ tôi bỏ nhà đi tôi không biết, sau khi chị S bỏ nhà đi tôi và gia đình đã tìm kiếm nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không thấy, không biết hiện giờ chị S ở đâu, còn sống hay đã chết, nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố vợ tôi chị Thào Thị S mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Yêu cầu của anh Hạng Mí P về việc tuyên bố chị Thào Thị S mất tích là có căn cứ, chị S tự bỏ nhà đi từ tháng 8 năm 2015 đến nay không có tin tức gì, mặc dù anh P và gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm, Tòa án nhân dân huyện Q đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng không xác định được chị Thào Thị S hiện đang làm gì, ở đâu. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, các Điều 369, Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận đơn yêu cầu của anh P ra quyết định tuyên bố chị Thào Thị S mất tích. Về lệ phí Tòa án: Anh P phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:
Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Hạng Mí P yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Thào Thị S mất tích được Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung việc dân sự: Chị Thào Thị S và anh Hạng Mí P được UBND xã C tổ chức cho đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là Hạng Văn T1, sinh ngày 21/12/2008 và Hạng Văn T2, sinh ngày 21/8/2010. Tháng 8/2015 chị S tự ý bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không về, sau khi chị S bỏ nhà đi gia đình anh P đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng đến nay không có tin tức gì về chị Thào Thị S hiện đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Việc chị S biệt tích được cơ quan quản lý hộ khẩu công an và Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang xác nhận chị S đã đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2015 cho đến nay chị S không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì. Do vậy anh Hạng Mí P yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Thào Thị S mất tích.
Ngày 08/10/2020 Tòa án nhân dân huyện Q đã thụ lý đơn yêu cầu của anh Hạng Mí P về việc tuyên bố chị Thào Thị S mất tích. Ngày 09/10/2020 Tòa án nhân dân huyện Q đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Thào Thị S. Thông báo tìm kiếm chị Thào Thị S đã được đăng trên Báo Công lý 03 số liên tiếp: Số 83 (1830) ngày 14/10/2020; số 84 (1831) ngày 16/10/2020; số 85 (1832) ngày 21/10 /2020 và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút trong 03 ngày liên tiếp: Ngày 22, 23 và 24 tháng 10 năm 2020. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có thông tin xác thực về việc chị Thào Thị S còn sống hay đã chết. Do vậy có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hạng Mí P về việc tuyên bố chị Thào Thị S mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phí nhắn tìm chị Thào Thị S đăng trên báo Công lý và phát trên đài tiếng nói Việt Nam, anh Hạng Mí P đã chi trả đủ.
Về lệ phí: Anh Hạng Mí P phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu anh Hạng Mí P được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định tại Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6 khoản; 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hạng Mí P.
Tuyên bố chị Thào Thị S, sinh năm: 1983; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn X, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Hạng Mí P phải chịu 300.000,đ (ba trăm nghin đồng)lệ phí dân sự sơ thẩm. được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q theo biên lai số 05195 ngày 08/10/2020. Anh P đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Q; - Người yêu cầu; - UBND xã C; - Lưu HS. | THẨM PHÁN Cao Danh Nhân |