- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp HĐ tín dụng (Ngân hàng SB - Ông N)"
- Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 317 Bộ luật Dân sự; Điều 319 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN Số: 01/2021/QĐHG-KDTM | Quận Ngô Quyền, ngày 09 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thẩm phán ra quyết định: Bà Nguyễn Thị Hoài.
Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 317, 319, 322, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 90, 91, 94, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả đối thoại tại Tòa án ngày 24 tháng 8 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, giữa:
- Người khởi kiện: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S Bank); địa chỉ trụ sở: Số 2C đường P, phường N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Tùng D; nơi ĐKHKTT: Số 31/522 đường C, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Ngõ 50 P, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 158/GUQ-SGB ngày 04/6/2021).
- Người bị kiện: Ông Đỗ Duy N, sinh năm 1977 và bà Ngô Thị H, sinh năm 1978; cùng nơi cư trú: Số 8/28 đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Mạc D, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1976; cùng nơi ĐKHKTT: Số 11/522 đường C, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; cùng nơi tạm trú: Khu 2A (nay là số 28/40/213 đường T), phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,
XÉT THẤY:
Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S Bank); địa chỉ trụ sở: Số 2C đường P, phường N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đỗ Duy Nh và bà Ngô Thị H; cùng nơi cư trú: Số 8/28 đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng
- Ông Phạm Mạc D và bà Phạm Thị T; cùng nơi ĐKHKTT: Số 11/522 đường C, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; cùng nơi tạm trú: Khu 2A (nay là số 28/40/213 đường T), phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:
2.1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H; ông Mạc Văn D và bà Phạm Thị T thống nhất: Tính đến ngày 03/8/2021, ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H còn nợ ngân hàng tổng cộng số tiền cả gốc và lãi (tạm tính đến ngày 03/8/2021) là 400.727.308 (bốn trăm triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm linh tám) đồng (trong đó nợ gốc là: 320.000.000 đồng, số tiền lãi là: 80.727.308 đồng). Ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H nhận trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 400.727.308 (Bốn trăm triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm linh tám) đồng.
2.2. Phương thức trả nợ: Đến ngày 01/11/2021 ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng cộng số tiền cả gốc và lãi (tạm tính đến ngày 03/8/2021) là 400.727.308 (Bốn trăm triệu, bảy trăm hai mươi bảy nghìn, ba trăm linh tám) đồng (trong đó nợ gốc là: 320.000.000 đồng, số tiền lãi là: 80.727.308 đồng).
Ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2.3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H; ông Mạc Văn D và bà Phạm Thị T thống nhất: Trường hợp ông Đỗ Duy N và bà Ngô Thị H không thanh toán trả nợ cho ngân hàng theo phương thức trả nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất 57,6 m2 và tài sản trên đất tại địa chỉ khu 2A (nay là số 28/40/213 đường T), phường V, quận L, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 576856, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00266/VN do Ủy ban nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/6/2009 mang tên ông Phạm Mạc D và bà Phạm Thị T để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.
5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
| Nơi nhận: - Các bên; - VKSND quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ việc, TA. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hoài |