vanban.org

Quyết định 01/2021/QĐ-TA

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/03/2021 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 95; Điều 96; Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình tại xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình đối với: Họ và tên: Đỗ Trọng L1, sinh ngày 14 tháng 05 năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 95; Điều 96; Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH
Số: 01/2021/QĐ- TA
Thái Thụy, ngày 19 tháng 03 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Tòng.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy. tỉnh Thái Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2021/QĐ- TA ngày 12 tháng 03 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Đỗ Trọng L1, sinh ngày 14 tháng 05 năm 1996; Giới tính: Nam; Căn cước công dân số xxx, ngày cấp: 15- 09- 2017, Nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư- Bộ Công an; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Nguyên quán: Xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, chỗ ở hiện nay: Thôn C1, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Họ tên bố: Đỗ Trọng T3; họ tên mẹ: Mai Thị L1.

Vắng mặt, không có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Xuân Trường- Phó Trưởng phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Thái Thu ̣, tỉnh Thái Bình.y

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình: Bà Phạm Thị Thanh Hải- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đỗ Trọng L1 (sau đây viết tắt là người bị đề nghị) trú tại thôn C1, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình là người nghiện ma túy. Do sử dụng ma túy nên ngày 21- 09- 2020, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng; đến ngày 22- 12- 2020 chấp hành xong. Ngày 29- 12- 2020, L1 sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy đá) tại cánh đồng thuộc địa phận xã T1 đã bị Công an xã phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản vi phạm hành chính. Vì vậy, ngày 06- 01- 2021, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người bị đề nghị Đỗ Trọng L1 trình bày: Do sử dụng ma túy từ năm 2016 nên mặc dù đã bị Ủy ban nhân dân xã T1 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2020 nhưng vẫn còn sử dụng ma túy. Hồi 19 giờ ngày 29- 12- 2020, khi đang sử dụng ma túy đá tại cánh đồng thuộc xã T1 thì bị Công an xã phát hiện, lập biên bản. Người bị đề nghị đã được đọc hồ sơ, không có ý kiến gì.

Văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xác định: Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; đúng đối tượng; các tài liệu trong hồ sơ đầy đủ và phù hợp, đảm bảo tính pháp lý, đủ điều kiện theo Thông tư số 19/2015/TT-BTP ngày 28 tháng 12 năm 2015 của Bộ Trưởng Bộ Tư pháp Quy định việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây viết tắt là Thông tư số 19/2015/TT-BTP).

Đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện trình bày ý kiến về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nhân thân; tình tiết giảm nhẹ; hình thức, biện pháp đã giáo dục; đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị, thời gian từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tại Trung tâm Cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình tại xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu: Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã tuân theo đúng các quy định pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận ý kiến của phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị; thời gian từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng.

XÉT THẤY:

. Về tố tụng: Người bị đề nghị Đỗ Trọng L1 đã được Tòa án gửi Thông báo thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp. Tại phiên họp, người bị đề nghị vắng mặt không có lý do; căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây viết tắt là Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13), Toà án vẫn tiến hành phiên họp.

. Về đối tượng, thời hiệu: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định; đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã mà vẫn còn nghiện ma túy; không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Ngày 29- 12- 2020, sử dụng ma túy bị phát hiện, lập biên bản. Việc Uỷ ban nhân dân xã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng đối tượng, đúng thời hiệu quy định Khoản 1 Điều 96; Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

. Về hồ sơ: Sau khi phát hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tình trạng nghiện ma túy của người bị đề nghị đã được người có thẩm quyền xác định. Hồ sơ có các tài liệu: Bản tóm tắt lý lịch; Bản tường trình của Đỗ Trọng L1 ngày 29- 12- 2020; Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 29- 12- 2020; Biên bản lấy mẫu xét nghiệm; Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy; Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Giấy xác nhận không tham gia chương trình cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng, điều trị chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế; Đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và các tài liệu khác có liên quan.

Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ, người bị đề nghị đã được thông báo việc lập hồ sơ, đã được đọc hồ sơ; được giao cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thể hiện qua các văn bản: Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Biên bản giao thông báo lập hồ sơ; Các biên bản giao hồ sơ; Biên bản về việc đọc hồ sơ; Quyết định giao cho gia đình quản lý; Biên bản giao cho gia đình quản lý. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đã thực hiện đúng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây viết tắt là Nghị định số 221/NĐ-CP); Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 09 năm 2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP; Thông tư số 19/2015/TT-BTP và Thông tư số 09/2017/TT-BTP ngày 18 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2015/TT-BTP.

. Về nội dung:

-Người bị đề nghị tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Người bị đề nghị không bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

-Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm. Như vậy, có đủ căn cứ và cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để người bị đề nghị có điều kiện cai nghiện ma túy. Cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động- Thương binh và xã hội áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điều 95; Điều 96; Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình tại xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình đối với:

Họ và tên: Đỗ Trọng L1, sinh ngày 14 tháng 05 năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C1, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn C1, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình.

3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (Mười tám tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án.

- Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Thái Thụy có quyền kiến nghị trong hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

- Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy có quyền kháng nghị trong hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

6. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Thái Thụy chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Thái Thụy đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ