- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định giải quyết kháng nghị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Chị Nguyễn Thị Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/QĐ-PT | Bắc Giang, ngày 23 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hải Vinh
Các Thẩm phán: Ông Hà Văn Nâu
Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Thư ký phiên họp: Bà Giáp Thị Loan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 23/12/2021, Hội đồng phúc thẩm mở phiên họp để xét kháng nghị đối với Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐDS-ST ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” giữa:
Người yêu cầu: Bà Dương Thị L (Tên gọi khác Dương Thị L), sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1982
Nơi thường trú cuối cùng: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐDS-ST ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện V đã căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 367, 370, 372, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 BLDS, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị L (tên gọi khác: Dương Thị L), tuyên bố chị Nguyễn Thị Th mất tích.
Tại Quyết định kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS ngày 06/9/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐDS-ST ngày 20/8/2021 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang với lý do: Không có căn cứ để xác định chị Th biệt tích 02 năm liền trở lên. Việc Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà L, tuyên bố chị Th mất tích là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sựu, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Th.
XÉT THẤY:
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐDS-ST ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện V:
Hội đồng phiên họp phúc thẩm xét thấy: Bà Dương Thị L (tên gọi khác: Dương Thị L) cho rằng từ năm 2016 chị Th bỏ nhà đi. Kể từ đó, chị Th không liên hệ gì với gia đình. Chị Th đi đâu, làm gì gia đình bà không biết. Nay bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Th mất tích.
Ông Nguyễn Đắc T là Phó trưởng Công an xã V, huyện V chỉ cung cấp: Chị Th hiện có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã V, huyện V. Chị Th hiện không có mặt ở địa phương. Chị Th đi đâu và làm gì ông không biết. Chị Th không xin tạm vắng qua Công an xã V.
Ông Dương Văn T là Trưởng thôn V, xã V, huyện V cung cấp: Chị Th không có mặt ở địa phương. Chị Th đi khỏi địa phương; có trở về địa phương lần nào hay không; đi đâu, làm gì ông đều không biết. Kể từ sau ngày Tòa án đăng, phát tin tìm kiếm chị Th trên thông tin đại chúng đến nay vẫn không ai biết tin tức của chị Th ở đâu, chị Th không trở về địa phương lần nào.
Như vậy, ông Nguyễn Đắc T, ông Dương Văn T đều không trình bày về việc kể từ năm 2016 đến nay không có tin tức xác thực về việc chị Th còn sống hay đã chết.
Tại đơn của bà Nguyễn Thị B là mẹ đẻ chị Th (đơn được công an xã Th, huyện L xác nhận ngày 24/12/2019) thì bà Bút chỉ trình bày là: Năm 2011 chị Th kết hôn với anh Đ, kể từ đó đến giờ không về quê sinh sống. Việc Tòa án nhận định là qua thông tin của gia đình chị Th ở thôn G, xã Th, huyện L cung cấp không ai biết chị Th đi đâu, làm gì là không đúng với nội dung đơn bà Bút trình bày.
Sau khi thụ lý giải quyết yêu cầu của bà L, Tòa án cấp sơ thẩm không lập biên bản xác minh với bố mẹ đẻ chị Th là bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Đức B có địa chỉ tại thôn G, xã Th, huyện L để hỏi về thông tin của chị Th (địa chỉ nơi chị Th đang ở; chị Th có liên lạc với bố mẹ đẻ không) là thu thập chưa đầy đủ tài liệu chứng cứ để giải quyết yêu cầu của bà L.
Với các tài liệu có trong hồ sơ, chưa đủ căn cứ để xác định chị Th biệt tích 02 năm liền trở lên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà L, tuyên bố chị Th mất tích là chưa đủ căn cứ.
Sau khi Tòa án sơ thẩm mở phiên họp giải quyết việc dân sự, ngày 30/8/2021 Viện kiểm sát nhân huyện V đã lập biên bản xác minh bà Bút, ông Bình đã trình bày: Dịp nghỉ lễ ngày 30/4/2021 chị Th có cùng hai con là cháu Thủy, cháu Lưu về nhà ông bà chơi. Chị Th có nói với ông bà là trước khi đi chị Th có xin phép bố mẹ chồng chị Th. Chị Th làm lao động tự do, đi nấu cơm cho các công trình xây dựng. Hiện chị Th đang đi làm ở thành phố V, tỉnh P, vẫn thường xuyên gọi điện về nhà. Chị Th có nói là mới gửi tiền về cho gia đình chồng để mua sách vở cho các con đi học. Ngoài ra ông bà còn cung cấp số điện thoại liên lạc của chị Th.
Ngày 01/9/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện V có nhận được đơn kháng cáo ghi là của chị Th (đơn ghi ngày 29/8/2021). Chị Th trình bày, chị đi làm ăn xa. Tháng 7/2021 chị có về thăm con, sau đó lại đi làm. Chị đề nghị Tòa án xem xét lại. Đơn chị Th được gửi qua đường bưu điện. Bì thư chị Th ghi ở địa chỉ Tích Sơn, thành phố V, tỉnh P; có dấu bưu điện V.
Đến ngày 09/9/2021 Chị Th có đơn xin rút kháng cáo.
Như vậy, có căn cứ để xác định chị Th không bị biệt tích 02 năm liền trở lên. Chị Th trình bày hiện chị đang ở tại địa chỉ Tích Sơn, thành phố V, tỉnh P. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà L, tuyên bố chị Th mất tích là không đúng quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chị Th.
Lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm 300.000đ.
Từ nhận định trên;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 375 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2021 của UBTVQH qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Sửa Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2021/QĐDS-ST ngày 20/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện V.
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị L (Tên gọi khác: Dương Thị L) về yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Th mất tích.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0000257 ngày 12/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V. Xác nhận bà L đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Tòa án ND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Hải Vinh |