vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 10/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý H: Tuyên bố anh Trần Quang T mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thuý H phải chịu 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: AA/2017/0003308 ngày 09/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Về chi phí đăng thông tin tìm kiếm người mất tích tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý H: Tuyên bố anh Trần Quang T mất tích.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST - VDSQuảng Bình, ngày 10 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thái Sơn;

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Nam – Thư ký TAND tỉnh Quảng Bình;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2019/ TLST-VSD ngày 03 tháng 12 năm 2019 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích; theo Quyết định mở phiên họp số: 740/2020/QĐ – ST ngày 28 tháng 5 năm 2020; Gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thuý H, sinh năm 1979;

Nơi đăng ký HKTT: Xã T, huyện Th, thành phố Hà Nội; Địa chỉ nơi tạm trú: Thôn Th, xã Th, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Có mặt.

2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Luật sư Lê Văn Ph, Văn phòng luật sư Ph, Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình; Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quang T, sinh năm 1978; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Th, xã Th, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt (đã đi khỏi địa phương từ tháng 2/2010).

4. Thân nhân của anh Trần Quang T: Ông Trần S, sinh năm 1946 và bà Hoàng Thị G, sinh năm 1953 (bố, mẹ đẻ của anh T); Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Ông Sim, bà Gái có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai giải quyết việc dân sự, chị Nguyễn Thị Thuý H trình bày như sau:

Chị Nguyễn Thị Thuý H xây dựng gia đình và đăng ký kết hôn với anh Trần Quang T vào ngày 13/8/2003 tại UBND xã Th, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà chồng ở xã Th, huyện B và sinh được một đứa con chung, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc. Đến tháng 2/2010, anh T nói đi làm ăn cho đến nay không có tin tức, chị H và gia đình bên chồng, bạn bè, người thân, hàng xóm không một ai biết anh T đi đâu, làm gì, ở đâu, từ đó đến nay vẫn không hề có tin tức của anh T qua điện thoại, thư từ, tin nhắn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho chị, chị àm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích đề thuận tiện hơn trong các việc giao dịch dân sự.

Ông Trần S và bà Hoàng Thị G (bố, mẹ đẻ anh T) trình bày tại phiên họp và bản trình bày ngày 27/4/2020: anh Trần Quang T là con trai của ông bà, đi làm ăn từ tháng 2/2010, vài tháng đầu còn có liên lạc với gia đình nhưng từ cuối năm 2010 đến nay, ông bà không hề nhận được liên lạc từ anh T, không biết tin tức anh T đi đâu, làm gì. Thời gian anh T đi biệt tích đã lâu, nay chị Nguyễn Thị Thuý H yêu cầu tuyên bố anh T mất tích, ông bà đồng ý không có ý kiến gì.

Luật sư Lê Văn Ph, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị Thuý H trình bày: anh T đã đi khỏi địa phương trên hai năm không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết. Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của chị H để tuyên bố anh Trần Quang T mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy đinh của pháp luật.

Về yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý H: Anh Trần Quang T đi biệt tích đã hơn 10 năm không có tin tức mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm, do đó đề nghị Toà án áp dụng Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của chị H để tuyên bố anh T mất tích. Án phí và chi phí việc dân sự chị Hồi phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận định:

Về tố tụng: Theo công văn số: 5739/QLXNC-P5 ngày 07/5/2020 của Cục quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Trần Quang T đã xuất cảnh ra nước ngoài từ ngày 13/4/2010, không có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam, nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền.

Sau khi có đơn yêu cầu tuyên bố anh T mất tích, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã thụ lý và tiến hành thực hiện các thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích; Đăng Thông báo trên báo Công Lý trong 3 số liên tiếp; Thông báo tìm kiếm anh Trần Quang T trên hệ phát thanh Ban Đối ngoại - Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV5) kênh phát thanh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài trong 3 ngày liên tiếp; Đăng trên cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình và UBND tỉnh Quảng Bình theo quy định nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Trần Quang T;

Nhận thấy: Qua lời khai của chị Nguyễn Thị Thuý H thì chị H đăng ký kết hôn với anh Trần Quang T vào ngày 13/8/2003 tại UBND xã Th, huyện B. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc và sinh được một đứa con chung. Đến tháng 2/2010, anh T bỏ đi làm ăn và không có liên lạc gì với gia đình, bố mẹ, vợ con từ đó đến nay.

Ông Trần S và bà Hoàng Thị G là bố mẹ ruột của anh T cũng đã xác định anh T đi khỏi nhà không có thông tin liên lạc với ông bà từ tháng 2 năm 2010 đến nay, hiện nay anh T đang ở đâu và làm gì ông bà không biết. UBND xã Th xác nhận thông tin ông S, bà G trình bày là đúng.

Như vậy anh Trần Quang T đã đi biệt tích từ năm 2010 đến nay đã 10 năm liền không có tin tức, không ai biết anh T ở đâu, đi đâu làm gì. Kể từ ngày 08/01/2020 đăng báo Công Lý số đầu tiên đến ngày mở phiên họp đã hơn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Trần Quang T.

Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích”, anh T đã đi khỏi địa phương hơn 10 năm nhưng không có tin tức tức gì, việc chị Nguyễn Thị Thuý H có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh Trần Quang T mất tích là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Thuý H phải chịu nộp lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng thông tin tìm kiếm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 27, 369, 370, 371, 372, 389; khoản 2 Điều 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 36 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý H: Tuyên bố anh Trần Quang T mất tích.

2.Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thuý H phải chịu 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: AA/2017/0003308 ngày 09/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Về chi phí đăng thông tin tìm kiếm người mất tích trên Báo công Lý và Đài Tiếng nói Việt Nam, chị Nguyễn Thị Thuý H phải chịu số tiền 3.544.000 đồng, chị Hồi đã nộp đủ, chị H đã nhận lại tại Toà án Quảng Bình số tiền: 1.456.000 đồng chênh lệch.

3. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ