- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà H yêu cầu tuyên bố ông M mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” của bà Huỳnh Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Số: 01/2020/QĐST-VDS | Thạnh Phú, ngày 28 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
Thư ký phiên họp: Ông Lê Khánh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-VDS ngày 09 tháng 12 năm 2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 347/2020/QĐST-VDS ngày 13 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Số 196C/2, ấp 2, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1958; Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 64/3, ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre.
Bà Mai Thị M, sinh năm: 1940; Nơi cư trú: ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Huỳnh Thị H trình bày:
Bà và ông Trần Văn M kết hôn vào năm 1983, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P3, thị xã B, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng kết hôn ngày 22/10/1983. Sống chung có sinh được một con chung tên Trần Huynh Đ, sinh ngày 28/02/1984. Sau khi kết hôn, bà và ông M chung sống tại số nhà 189B/6, ấp 6, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Cho đến đầu năm 2009, bà và ông M thống nhất bán nhà đất đang ở và thỏa thuận chia tài sản, từ đó bà và ông M sống ly thân. Bà và người con Trần Huynh Đ chuyển hộ khẩu về sống ở ấp 2, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre cho đến nay. Còn ông M, vào ngày 25/6/2009 đã chuyển hộ khẩu đến số nhà 64/3, ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre sinh sống và cũng trong năm 2009 này ông M đã bỏ nhà đi khỏi địa phương mà không thông báo cho bà và người thân biết ông M ở đâu, làm gì. Bà đã tìm kiếm nhiều nơi và có yêu cầu Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh thông tin trên sóng phát thanh và nhắn tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng vẫn không có ai biết được tin tức của ông M và ông M cũng không quay về nhà. Do đó, bà yêu cầu tuyên bố ông Trần Văn M mất tích để bà có đủ điều kiện ly hôn theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng theo nội dung đơn trình bày ý kiến bà M trình bày:
Bà là mẹ ruột của ông Trần Văn M, giữa ông M với bà Huỳnh Thị H có mối quan hệ là vợ chồng. Trước đây ông M và bà H sống chung với nhau tại ấp 6, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Đến khoảng tháng 6/2009 thì ông M bỏ nhà đi đến ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre cư trú rồi từ đó cho đến nay ông M bỏ đi đâu bà hoàn toàn không biết, gia đình không ai có tin tức gì về ông M.
Nay bà H có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tuyên bố ông M mất tích thì bà không có ý kiến gì.
Tại phiên họp bà H vẫn giữ yêu cầu về việc tuyên bố ông M mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu quan điểm: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; Các Điều 27, Điều 370, 371, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Huỳnh Thị H đối với ông Trần Văn M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre nhận định:
Bà Huỳnh Thị H và ông Trần Văn M sống chung từ năm 1983, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân P3, thị xã B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/10/1983 và có với nhau một con chung.
Căn cứ vào xác nhận ngày 08/11/2019 của Công an xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre thì ông Trần Văn M trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 189B, ấp 6, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, đến ngày 25/6/2009 đã chuyển hộ khẩu đến số nhà 64/3, ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre cho đến nay. Còn qua xác nhận ngày 11/11/2019 của Công an xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre thì vào khoảng tháng 6/2009 ông Trần Văn M có chuyển đến tạm trú tại số nhà 64/3, ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre nhưng trong khoảng thời gian 10 ngày thì ông M nhậu say gây rối chủ nhà đuổi đi không cho ở cho đến nay không có ở địa phương. Bà H đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.
Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và đã được đăng trên báo Công Lý trong ba số liên tiếp vào các ngày 03,07 và ngày 10 tháng 01 năm 2020 và trên Đài truyền hình Việt Nam VTV9 từ ngày 02/01 đến ngày 04/01/2020 để thông báo cho ông Trần Văn M biết bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông M mất tích. Đến nay đã trên 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng ông M không trở về và cũng không có tin tức gì của ông Trần Văn M. Như vậy, có căn cứ xác định ông Trần Văn M đã biệt tích từ năm 2009 cho đến nay, thời gian biệt tích là trên 02 năm. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là hoàn toàn phù hợp. Do đó,Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị H về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” đối với ông Trần Văn M.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” của bà Huỳnh Thị H.
2. Tuyên bố ông Trần Văn M, sinh năm: 1958; Nơi cư trú cuối cùng: Số nhà 64/3, ấp T, xã T P, huyện P, tỉnh Bến Tre mất tích.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006279 ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Bà H đã nộp xong.
4. Bà Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Thạnh Phú; - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú; - UBND xã T P; - Người yêu cầu; người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Thị Thủy Tiên |