vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Quách Thị H: Tuyên bố anh Lê Xuân D - sinh năm 1992; nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Quách Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền lệ phí chị H phải chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số: AA/2018/0006425 ngày 03/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc DS: Tuyên bố anh Lê Xuân Duy mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Quách Thị H: Tuyên bố anh Lê Xuân D - sinh năm 1992; nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ THANH
TỈNH THANH HÓA
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-VDSNhư Thanh, ngày 29 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Đình Huy

Thư ký phiên họp: Ông Trịnh Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST-VDS ngày 03 tháng 8 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2020/QĐST-VDS ngày 21 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Quách Thị H - Sinh năm 1995

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Chỗ ở hiện nay: Thôn R, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Xuân D, sinh năm 1992

Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Vắng mặt

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích ngày 23/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là chị Quách Thị H trình bày:

Chị và anh Lê Xuân D (sinh năm 1992) kết hôn năm 2013. Sau khi cưới, chị về sống chung với anh D ở thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đến tháng 4/2018, anh D bỏ nhà ra đi mà không cho ai biết địa chỉ ở đâu. Từ đó đến nay, bản thân chị và gia đình anh D đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có ai biết tin tức về anh D ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy chị đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh D mất tích. Về tài sản: Chị và anh D không có tài sản gì nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn yêu cầu và bản tự khai, chị H còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao có chứng thực); Giấy chứng minh nhân dân của chị H và sổ hộ khẩu gia đình chị (bản sao có chứng thực); giấy xác nhận nơi cư trú cuối cùng của người bị yêu cầu; báo Công lý số 52 ngày 26/6/2020; đơn xin giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình về tin tức của anh D. Kết quả xác minh thể hiện: Anh Lê Xuân D có nơi cư trú cuối cùng tại thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nhưng anh D đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ tháng 4/2018. Đến nay không có ai biết tin tức gì về anh D còn sống hay đã chết.

Trên cơ sở kết quả xác minh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên báo Công lý và đài Tiếng nói Việt Nam. Hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án vẫn không có tin tức gì về anh D.

* Tại phiên họp, chị Quách Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Quách Thị H, tuyên bố anh Lê Xuân D mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Lê Xuân D có nơi cư trú cuối cùng tại thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Như Thanh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của người yêu cầu: Chị Quách Thị H đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về nội dung:

Chị Quách Thị H và anh Lê Xuân D là vợ chồng và cùng đăng ký hộ khẩu thường tú tại thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh D đã bỏ nhà đi từ tháng 4/2018 đến nay đã hơn 02 (hai) năm nhưng không có ai biết tin tức về anh D sống hay đã chết. Mặc dù gia đình anh D và Tòa án đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về anh D. Đã hết thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát lần đầu (21/8/2020) thông báo của Tòa án về việc tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng vẫn không có tin tức gì về anh D. Vì vậy, căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Quách Thị H về việc tuyên bố anh Lê Xuân D mất tích là phù hợp.

Về quản lý tài sản: Chị Quách Thị H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về lệ phí: Chị Quách Thị H thuộc trường hợp phải chịu lệ phí theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 388; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Quách Thị H: Tuyên bố anh Lê Xuân D - sinh năm 1992; nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Chị Quách Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền lệ phí chị H phải chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số: AA/2018/0006425 ngày 03/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa; chị H đã nộp đủ tiền lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; thời hạn kháng nghị bắt đầu tính từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ