- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "VIỆC DÂN SỰ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Tiến D.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:01/2020/ QĐST- VDS | Krông Nô, ngày 27 tháng 02 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Tím
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun, cán bộ TAND huyện Krông Nô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên họp: ông Nông Quốc Hùng, chức vụ Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 07/2019/TLST-VDS, ngày 03/9/2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2020/QĐST-VDS, ngày 14/02/2020.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1983
Địa chỉ: thôn L, xã S, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Ph, sinh năm 1985.
Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đức L, xã Đắk S, huyện K, tỉnh Đăk Nông.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 07/8/2019, nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 28/8/2019, anh Phạm Tiến D trình bày:
Anh và chị Vũ Thị Ph kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện từ năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện K. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn L, xã S, huyện K và có hai con chung là Phạm Triệu V, sinh ngày 24/02/2009 và Phạm Ngọc S, sinh ngày 18/6/2012. Tuy nhiên từ tháng 02 năm 2017 đến nay chị Ph đã bỏ đi khỏi địa phương, anh D đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không biết tung tích gì của chị Ph. Vì vậy anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị Ph mất tích.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên họp: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp: Từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự và Thư ký phiên họp đã chấp hành đúng quy định tại Điều 367 đến Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Tiến D gửi đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý việc dân sự về việc “Tuyên bố một người mất tích” là có căn cứ và đúng quy định tại Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Vũ Thị Ph, địa chỉ cư trú: thôn L, xã S , huyện K, tỉnh Đắk Nông biệt tích từ tháng 02 năm 2017 đến nay không có tin tức gì, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Ph còn sống hay đã chết. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Tiến D, tuyên bố chị Vũ Thị Ph mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Phạm Tiến D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân huyện Krông Nô nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Tiến D yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị Ph mất tích, đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Các đương sự cùng cư trú tại thôn L, xã S, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Theo quy định tại khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành niêm yết, xác minh và thông báo tìm kiếm chị Vũ Thị Ph trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay hết thời hạn thông báo nhắn tin nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Vũ Thị Ph nên Tòa án tiến hành mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích là đúng theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của anh Phạm Tiến D:
3.1. Anh và chị Vũ Thị Ph kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện từ năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện K. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn L, xã S, huyện K và có hai con chung là Phạm Triệu V, sinh ngày 24/02/2009 và Phạm Ngọc S, sinh ngày 18/6/2012. Tuy nhiên từ tháng 02 năm 2017 đến nay chị Ph đã bỏ đi khỏi địa phương.
3.2. Về điều kiện tuyên bố mất tích đối với chị Vũ Thị Ph: Theo xác nhận của Công an xã Đắk Sôr thì anh D và chị Ph đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã S theo hồ sơ hộ khẩu số 321. Từ năm 2017, chị Ph đã đi khỏi địa phương mà không thông báo tạm vắng hay thay đổi nơi cư trú. Ngày 16/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã ban hành Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 07/2019/QĐST-VDS. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên Báo Công Lý số 80, 81, 82 ra các ngày 08, 11, 15 tháng 10 năm 2019 và phát thông báo tại Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên vào các ngày 28, 29, 30 tháng 9 năm 2019. Đến nay đã hết thời hạn pháp luật quy định nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Vũ Thị Ph.
3.3. Như vậy, xác định được nơi cư trú cuối cùng của chị Vũ Thị Ph là thôn L, xã S, huyện K. Do chị Ph đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù anh D đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Ph. Xét yêu cầu của anh D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tuyên bố chị Vũ Thị Ph mất tích là có cơ sở; đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô là có căn cứ, vì vậy căn cứ Điều 68, Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Tiến D. Đối với phần quản lý tài sản, anh Phạm Tiến D không yêu cầu nên không xem xét.
. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
- Anh Phạm Tiến D thuộc hộ nghèo nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả anh Phạm Tiến D số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí sơ thẩm mà anh Phạm Tiến D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô theo biên lai số 0001002/BL-THA, ngày 29/8/2019.
- Anh Phạm Tiến D phải chịu chi phí đăng tin và phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.025.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền mà anh đã nộp theo Phiếu thu ngày 27/9/2019 và Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 18/10/2019.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các khoản 3 Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 68; Điều 149; Điều 370; Điều 372; Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Tiến D.
Tuyên bố chị Vũ Thị Ph, sinh năm 1985 mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
- Anh Phạm Tiến D thuộc hộ nghèo nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả anh Phạm Tiến D số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí sơ thẩm mà anh Phạm Tiến D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô theo biên lai số 0001002/BL-THA, ngày 29/8/2019.
- Anh Phạm Tiến D phải chịu chi phí đăng tin và phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 3.025.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền mà anh đã nộp theo Phiếu thu ngày 27/9/2019 và Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 18/10/2019.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc thông báo niêm yết.
- Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkNông; - VKSND huyện.KrôngNô; - CC THADShuyện Krông Nô; - Các đưong sự; - Lưu HS vụán. | THẨM PHÁN (Đã ký) Lê Thị Tím |