vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/03/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Các điều 26, 33, 36, 332 Bộ luật tố tụng dân sự.

Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Trương Công Khoa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyen Van B va Tran Thi L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Các điều 26, 33, 36, 332 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-VDS
Ngày 23/3/2020
V/v:tuyên bố một người mất tích

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một ngƣời mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

* Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Ngọc Thuận

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 3 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2019/TLST-VDS ngày 29 tháng 10 năm 2019 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2020/QĐPH-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 giữa:

* Ngƣời yêu cầu: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Hòa M, huyện Duy T (nay là tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam. Có mặt.

* Ngƣời bị yêu cầu: Chị Trần Thị L, sinh năm 1983; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 4, thị trấn Hòa M, huyện Duy T (nay là tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: thôn Thận A, xã Yên N, huyện Duy T (nay là thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam.Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu và bản tự khai tại Tòa án, người yêu cầu anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh và chị Trần Thị L đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hòa M, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam vào ngày 13/3/2013 trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thị trấn Hòa M, quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đến tháng 8 năm 2016 chị L bỏ nhà đi biệt tích khỏi địa phương không có tin tức gì. Sau khi chị L bỏ đi, anh có tìm kiếm qua người thân của chị L và chính quyền địa phương, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về chị L.

Vì vậy anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên thông báo tìm kiếm chị Trần Thị L trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Công Lý và áp dụng các biện pháp tìm kiếm khác trên cơ sở đó làm thủ tục tuyên bố chị Trần Thị L mất tích theo quy định của pháp luật. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp anh Nguyễn Văn B giữ nguyên quan điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự và đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn B theo đó tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị L nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 4, thị trấn Hòa M, huyện Duy T (nay là tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: thôn Thận A, xã Yên N, huyện Duy T (nay là thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên nhận định:

Xét yêu cầu của anh Nguyễn Văn B nhận thấy: Anh Nguyễn Văn B và chị Trần Thị L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hòa M, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam ngày 13/3/2013 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng đăng ký nhân khẩu thường trú và chung sống tại tổ dân phố 4, thị trấn Hòa M, huyện Duy T (nay là tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam đến tháng 8/2016 chị L bỏ đi khỏi gia đình. Kết quả tìm kiếm chị Trần Thị L từ thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam, trên báo Công Lý và xác minh qua thân nhân của chị, chính quyền địa phương xã Yên N nơi sinh quán của chị đều thể hiện từ tháng 4 năm 2017 đến nay không biết chị L ở đâu và không có tin tức gì về chị Trần Thị L.

Như vậy có đủ căn cứ xác định chị Trần Thị L đã biệt tích hơn 2 năm liền (từ tháng 4 năm 2017 đến nay), mặc dù đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng không có tin tức xác thực là chị L còn sống nên yêu cầu của anh Nguyễn Văn B đề nghị Tòa án tuyên bố chị Trần Thị L mất tích là có căn cứ được chấp nhận theo điều 68 Bộ luật dân sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Văn B phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về chi phí đăng phát sóng trên phương tiện thông tin đại chúng: anh Nguyễn Văn B phải chịu chi phí đăng phát sóng thực tế đã chi 3.044.000đ; số tiền này anh B đã nộp và Tòa án đã quyết toán xong với anh B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 27, 35, 39, 149, 370, 389 Bộ luật tố tụng dân sự

- Điều 68 Bộ luật dân sự

- Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016

1/ Chấp nhận yêu cầu "Tuyên bố một người mất tích" của anh Nguyễn Văn B.

Tuyên bố: chị Trần Thị L sinh năm 1983; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố 4, thị trấn Hòa M, huyện Duy T (nay là tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: thôn Thận A, xã Yên N, huyện Duy T (nay là thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam, mất tích.

2/ Về chi phí đăng phát sóng trên phương tiện thông tin đại chúng: anh Nguyễn Văn B phải chịu chi phí đăng phát sóng thực tế đã chi 3.044.000đ (Ba triệu không trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) (Số tiền này anh B đã nộp và đã quyết toán xong).

3/ Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ đi số tiền tạm ứng lệ phí anh B đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Duy Tiên theo biên lai số: 0003117 ngày 29/10/2019.

Báo cho anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người bị yêu cầu chị Trần Thị L vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng. Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

- VKSND thị xã Duy Tiên.

- THADS thị xã Duy Tiên.

- UBND phường Hòa Mạc.

- Đương sự.

- Lưu hồ sơ

Trần Ngọc Thuận TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH LIÊM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÀNAM Quyết định số:02/2014/VDS-ST Ngày 22 - 4 - 2014

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ MỘT NGƢỜI MẤT TÍCH

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

Với thành phần phiên họp sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: ông Trần Ngọc Thuận

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2014 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2013/TLST-VDS ngày 29/10/2013 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 01/2014/QĐST-VDS ngày 07/4/2014 giữa:

* Ngƣời yêu cầu: anh Trương Công Khoa - SN 1978

Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

* Ngƣời bị yêu cầu: chị Nguyễn Thị Hương - SN 1987

Nơi ĐKNKTT: thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: xóm Trường Sơn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

(Tại phiên họp có mặt anh Trương Công Khoa)

NHẬN THẤY

Theo đơn yêu cầu và bản tự khai tại Tòa án, người yêu cầu anh Trương Công Khoa trình bày: anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Hương trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Thanh Tâm đăng ký năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng đăng ký nhân khẩu thường trú tại thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, chung sống hòa thuận được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, tháng 6/2010 chị Hương cãi nhau với bố mẹ đẻ của anh sau đó chị Hương tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở xóm Trường Sơn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa sinh sống. Kể từ tháng 4/2011 anh không thể liên lạc được với chị Hương, anh đã đến nhà bố mẹ đẻ của chị Hương để tìm kiếm nhưng không được, anh đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có thông tin gì về chị Hương, không biết hiện nay chị Hương đang sinh sống ở đâu. Vì vậy anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị Hương trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Công Lý và áp dụng các biện pháp tìm kiếm khác trên cơ sở đó làm thủ tục tuyên bố chị Nguyễn Thị Hương mất tích theo quy định của pháp luật. Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp anh Trương Công Khoa vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm có quan điểm: quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án huyện Thanh Liêm đã áp dụng đúng trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm giải quyết theo hướng chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trương Công Khoa theo đó tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị Hương sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT: thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: xóm Trường Sơn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và người yêu cầu:

XÉT THẤY

Anh Trương Công Khoa và chị Nguyễn Thị Hương có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tháng 2 năm 2007 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đến tháng 6/2010 chị Hương bỏ về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị ở xóm Trường Sơn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đến tháng 4 năm 2011 chị Hương bỏ đi khỏi gia đình. Kết quả tìm kiếm chị Nguyễn Thị Hương từ thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam, trên báo Công Lý và xác minh qua thân nhân của chị, chính quyền địa phương đều thể hiện từ tháng 4 năm 2011 đến nay không biết chị Hương ở đâu và không có tin tức gì về chị Hương.

Như vậy có đủ căn cứ xác định chị Nguyễn Thị Hương đã biệt tích hơn 2 năm liền (từ tháng 4 năm 2011 đến nay), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng không có tin tức xác thực là chị Hương còn sống nên yêu cầu của anh Trương Công Khoa đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Hương mất tích là có căn cứ được chấp nhận theo khoản 1 điều 78 Bộ luật dân sự.

Về quản lý tài sản: anh Khoa không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: anh Trương Công Khoa phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: - Các điều 26, 33, 36, 332 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Khoản 1 điều 78 Bộ luật dân sự

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Trương Công Khoa.

Tuyên bố: chị Nguyễn Thị Hƣơng, sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT: thôn Kho Núi, xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú cuối cùng: xóm Trường Sơn, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Trương Công Khoa phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Số tiền tạm ứng lệ phí anh Khoa đã nộp 200.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm theo biên lai số 00734 ngày 29/10/2013 được đối trừ khi thi hành án.

Báo cho anh Trương Công Khoa được quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ