- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "THẢO MẠNH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Phương T về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐST-VDS | Đông Hà, ngày 10 tháng 02 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.
- Thư ký phiên họp: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà,tỉnh Quảng Trị tham gia phiên họp: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 178/2019/TLST-VDS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 14 tháng 01 năm 2020, Quyết định hoãn phiên họp số 01/2020/QĐST-VDS ngày 22/01/2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Phương T, sinh năm 1991; trú tại: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Đ, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai ngày 11/12/2019, chị T trình bày:
Chị Trần Thị Phương T và anh Nguyễn Văn M đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Theo xác nhận của công an thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và Công an Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị thì anh Nguyễn Văn M trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu 5, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đ, đến ngày 23/8/2017 chuyển hộ khẩu thường trú đến Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q. Từ tháng 3/2015 đến nay anh M không có liên lạc, không về thăm gia đình, chị T đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức. Xác minh tại Công an Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị thì hiện anh M không có mặt tại địa phương, từ tháng 3 năm 2019 đến nay anh M không còn cư trú tại địa chỉ Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q.
Chị Trần Thị Phương T yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; Nơi cư trú cuối cùng: Khu phố 7, phường A, thành phố Đ, tỉnh Q để giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:
- Về thẩm quyền thụ lý việc dân sự: Tòa án nhân dân thành phố Đông thụ lý giải quyết yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng của người yêu cầu là chị Trần Thị Phương T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn M là đúng theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Tòa án đã tiến hành đúng theo quy định tại Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thủ tục tiến hành phiên họp: Đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên họp: Tại phiên họp Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị Phương T và anh Nguyễn Văn M đăng ký kết hôn vào năm 2014. Hiện nay, chị T muốn làm thủ tục ly hôn với anh Nguyễn Văn M nhưng không xác định được địa chỉ của anh M. Theo xác nhận của công an thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và Công an Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị thì anh Nguyễn Văn M trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu 5, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đ, đến ngày 23/8/2017 chuyển hộ khẩu thường trú đến Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q. Tuy nhiên, từ tháng 3/2019 thực tế không còn sinh sống tại Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q. Như vậy, anh Nguyễn Văn M đã biệt tích từ tháng 3/2019 đến nay là hơn 06 tháng liền. Áp dụng Điều 369, Điều 370, Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 64 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Phương T về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh tỉnh Quảng Trị nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; Nơi cư trú cuối cùng: Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q. Theo quy định tại khoản 2, Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của chị Trần Thị Phương T về việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà. Chị Trần Thị Phương T có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu.
Về nội dung yêu cầu: Chị Trần Thị Phương T và anh Nguyễn Văn M đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Anh M có đăng ký hộ khẩu tại: Khu 5, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đ. Quá trình chung sống, anh M và chị T có 01 người con chung là cháu Nguyễn Mạnh H. Từ tháng 3/2015, anh M tự ý bỏ nhà đi và không có liên lạc với gia đình. Ngày 23/8/2017, anh M chuyển hộ khẩu thường trú đến Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q. Xác minh tại Công an Phường 5, thành phố Đ, tỉnh Q hiện anh M không có mặt tại nơi cư trú. Từ tháng 3 năm 2019 đến nay, anh M không còn cư trú tại Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q, hiện anh M đi đâu, làm gì địa phương không rõ.
Xét thấy, anh Nguyễn Văn M đã bỏ nhà đi từ năm 2015, chị T và gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Tại biên bản xác minh ngày 11/12/2019, Công an Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xác nhận anh Nguyễn Văn M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q từ năm 2017. Từ tháng 3/2019, không có mặt tại nơi cư trú, đã đi khỏi địa phương, hiện nay đi đâu, làm gì địa phương không rõ.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn Văn M đã biệt tích trên 06 tháng liền và việc vắng mặt của anh M ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị Trần Thị Phương T. Do đó, yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” của chị Trần Thị Phương T đối với anh Nguyễn Văn M là có cơ sở nên cần được chấp nhận.
Đối với việc quản lý tài sản của người vắng mặt: Chị T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí cho việc đăng phát thông tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú chị Trần Thị Phương T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361, khoản 2 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 381; Điều 382; Điều 383; Điều 385 và Điều 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 64 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Phương T về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn M.
2. Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn M; sinh năm 1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Khu phố 7, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Q.
Thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Văn M được đăng trên một trong các báo hàng ngày của Trung ương ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Trần Thị Phương T phải chịu, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/ 0000319 ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Về chi phí cho việc đăng phát thông tin tìm kiếm anh Nguyễn Văn M do chị Trần Thị Phương T chịu.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà có quyền kháng nghị trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND thành phố Đông Hà ; - Chi cục THADS thành phố Đông Hà; - Các đương sự; - Cơ quan đăng thông báo; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Vũ Xuân |