- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đô xác nhận cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đức Đ về việc: "Yêu cầu xác định cha cho con".
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01 /2020/QĐST-HNGĐ | Quế Sơn, ngày 12 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: "Yêu cầu xác định cha cho con"
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thọ.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hồ Thu Thảo - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn tham gia phiên họp: Bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về việc "Yêu cầu xác định cha cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/ 2020/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn Trà Đình 1, xã QP, huyện QS, tỉnh QN.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1936. Địa chỉ: Thôn Trà Đình 1, xã QP, huyện QS, tỉnh QN. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bà Tô Thị Đ1, sinh năm 1942. Địa chỉ: Thôn Trà Đình 1, xã QP, huyện QS, tỉnh QN. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1965. Địa chỉ: Tổ 45, phường HCB, quận HC, thành phố ĐN. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn Trà Đình 1, xã QP, huyện QS, tỉnh QN. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 10/02/2020, bản tự khai và tại phiên họp, ông Nguyễn Đức Đ trình bày: Năm 1967, mẹ ông là bà Nguyễn Thị L có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với ông Nguyễn C (đã hy sinh năm 1970) và sinh ra ông, nhưng do chiến tranh ác liệt cũng như ông C theo cách mạng, bà L sợ chính quyền chế Đ cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà khai sinh ông theo họ mẹ, đến bây giờ giấy tờ nhân thân của ông không có họ tên cha. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn C, sinh năm 1940 là cha ruột của ông nhằm xác định đúng cội nguồn, tổ tiên, huyết thống để con cháu sau này không bị nhầm lẫn trong việc hôn nhân giữa tộc họ này với tộc họ khác.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 1967, bà có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với ông Nguyễn C và sinh ra ông Nguyễn Đức Đ. Nhưng do chiến tranh ác liệt và ông Nguyễn C theo cách mạng (đã hy sinh năm 1970), bà sợ chính quyền chế Đ cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà khai sinh ông Đ theo họ mẹ. Đến bây giờ, giấy tờ nhân thân của ông Đ không có họ tên cha. Nay, ông Đ yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn C, sinh năm 1940 là cha ruột của ông Đ là chính đáng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tô Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Ng, ông Nguyễn Văn H đều trình bày: Năm 1967, ông Nguyễn C có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với bà Nguyễn Thị L sinh ra ông Nguyễn Đức Đ nhưng do ông C theo cách mạng (đã hy sinh năm 1970), bà L sợ chính quyền chế Đ cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà khai sinh ông Đ theo họ mẹ. Nay, ông Đ yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn C, sinh năm 1940 là cha ruột của ông Đ là chính đáng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Quế Sơn:
- Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 369 Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đơn yêu cầu của Nguyễn Đức Đ về việc: "Yêu cầu xác định cha cho con". Công nhận ông Nguyễn C, sinh năm 1940, là cha ruột của ông Nguyễn Đức Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn nhận định:
. Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, bà Tô Thị Đ1, bà Nguyễn Thị Ng đều có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng giải quyết việc dân sự căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
. Ông Nguyễn C, sinh năm 1940, đã hy sinh năm 1970. Nay, ông Nguyễn Đức Đ yêu cầu Tòa án xác định ông C là cha ruột của ông Đ nên quan hệ pháp luật được xác định là "Yêu cầu xác định cha cho con" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn theo quy định tại Điều 29, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Đức Đ:
Bà Nguyễn Thị L khai rằng: Năm 1967, bà có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với ông Nguyễn C, nhưng do ông C theo cách mạng nên khi sinh ra ông Đ (năm 1968) bà sợ chính quyền cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà đã khai sinh ông Đ theo họ mẹ và giấy tờ nhân thân của ông Đ không có họ tên cha.
Tại bản tự khai, vợ và các con của ông Nguyễn C đều thừa nhận: Năm 1967, ông Nguyễn C có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với bà Nguyễn Thị L sinh ra ông Nguyễn Đức Đ nhưng do ông C theo cách mạng (đã hy sinh năm 1970), bà L sợ chính quyền chế Đ cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà khai sinh ông Đ theo họ mẹ.
Tại biên bản họp gia tộc ngày 06/01/2020, ông Nguyễn Văn Đ2, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Th (thuộc gia tộc Nguyễn Văn) đều xác nhận: Trước đây, ông Nguyễn C (thuộc tộc Nguyễn Văn) có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với bà Nguyễn Thị L sinh ra ông Nguyễn Đức Đ. Nhưng vì điều kiện chiến tranh cũng như ông C theo cách mạng, bà L sợ chính quyền chế Đ cũ làm phiền, gây khó khăn nên bà khai sinh ông Đ theo họ mẹ và đến nay, giấy tờ nhân thân của ông Đ không có họ tên cha. Hiện nay, gia tộc Nguyễn Văn đều đã công nhận ông Nguyễn Đức Đ là con ông Nguyễn C, sinh năm 1940, thuộc dòng họ Nguyễn Văn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng giải quyết việc dân sự cần căn cứ Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức Đ, xác định ông Nguyễn C, sinh năm 1940 (đã hy sinh năm 1970) là cha của ông Nguyễn Đức Đ.
. Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức Đ phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 29, Điều 35, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đức Đ về việc: "Yêu cầu xác định cha cho con".
Công nhận ông Nguyễn C, sinh năm 1940, đã hy sinh năm 1970 là cha ruột của ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1968.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Đức Đ phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Đ đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007210 ngày 10/02/2020.
Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định (12/3/2010). Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định, hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Quế Sơn; - Chi cục THADS huyện Quế Sơn; - Các đương sự; - UBND xã Quế Phú; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Thọ |