vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-HN&GĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th - yêu cầu xác định cha cho con"
  • Căn cứ chính? Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-HN&GĐ
Ngày 31/12/2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v xác định cha cho con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Hạnh

Thư ký phiên họp: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 246/2020/TLST-HN&GĐ ngày 07/10/2020, về yêu cầu xác định cha cho con, theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2020/QĐ-MPH ngày 23/12/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Th – sinh năm 1981, đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi cư trú: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014

- Cháu Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012

Đều trú tại: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu H và cháu Đ: Chị Nguyễn Thị Th – sinh năm 1981, đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi cư trú: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD.

(Đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1926, Trú tại: Xóm 3, thôn Phú Th, xã Đông Tr, huyện Tiền H, tỉnh Thái B.

- Ông Nguyễn Văn C – sinh năm 1946 Trú tại: Thôn Quảng B, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD

- Ông Nguyễn Văn S – sinh năm 1942

- Bà Nguyễn Thị D – sinh năm 1943 Đều trú tại: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD

- Ông Vũ Văn H – sinh năm 1958 Trú tại: Khu dân cư Trại S, phường Văn A, thành phố CL, tỉnh HD.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu và tại biên bản ghi lời khai chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị và anh Vũ Văn T – sinh năm 1954, quê quán: xã Đồng Tr, huyện Tiền H, tỉnh Thái B, nơi cư trú: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD sau thời gian quen biết và yêu nhau, đến năm 2010 anh chị đã về chung sống với nhau như vợ chồng tại thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD nhưng không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống của anh chị rất hạnh phúc, anh chị luôn yêu nhau và quan tâm chăm sóc đến nhau. Anh chị cũng đã chuẩn bị làm thủ tục đăng ký kết hôn nhưng do anh T làm việc trong quân đội nên còn thiếu một số giấy tờ nên anh chị chưa đăng ký kết hôn được. Anh chị có tổ chức vài mâm cơm mời hai bên họ hàng gia đình biết. Quá trình chung sống chị và anh T có 2 người con là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Cả hai cháu khai sinh đều không có tên cha trong giấy khai sinh do anh chị chưa đăng ký kết hôn nhưng hai cháu là con của anh chị thì họ hàng hai bên gia đình đều biết và chính quyền địa phương cũng xác nhận, chị đã lấy họ Vũ của anh Tỉnh đặt cho cháu H. Trong quá trình chung sống chị cũng luôn làm tròn trách nhiệm như một người vợ với anh T cũng như làm tròn trách nhiệm là dâu con trong nhà. Anh T cũng rất yêu thương và chăm sóc các con. Anh chị cũng có những bức ảnh chụp chung cùng nhau mà chị đã nộp cho Toà án. Có thời gian khi chị mang thai cháu lớn thì chị và anh T cũng đã về gia đình bố mẹ anh T ở huyện Tiền H, tỉnh Thái B chung sống với nhau một thời gian sau đó anh chị mới về thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT sinh sống đến tháng 7/2015 thì anh T bị tai nạn chết. Sau khi anh T chết thì chị vẫn qua lại gia đình bên nội và bố mẹ anh T, gia đình anh T cũng luôn coi chị và các con của chị là con cháu trong gia đình. Gia đình anh T cũng đã lấy mẫu tóc của anh T và cháu H, cháu Đ để đi xét nghiệm ADN và kết quả giám định là cháu H và cháu Đ đều là con đẻ của anh Vũ Văn T. Nay để đảm bảo quyền lợi cho các con chị được nhận cha và cũng là nguyện vọng của gia đình anh T. Chị đề nghị Toà án xác nhận anh Vũ Văn T là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng H và Nguyễn Thành Đ.

Tại biên bản ghi lời khai của bố mẹ đẻ chị Th là ông Nguyễn Văn S và bà Bùi Thị D trình bày: Khoảng năm 2010 chị Th và anh Vũ Văn T có chung sống như vợ chồng với nhau tại thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD và sinh được 2 người con là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Cả hai con khai sinh đều không có tên cha trong giấy khai sinh do chị Th và anh T chưa đăng ký kết hôn nhưng hai cháu là con đẻ của chị Th và anh T thì họ hàng hai bên gia đình đều biết. Gia đình bà cũng luôn coi anh T là con rể trong nhà. Anh T cũng luôn làm tròn trách nhiệm của người con trong gia đình ông bà. Còn chị Th cũng luôn coi gia đình của anh T là người thân của mình, có công việc gì chị Th luôn quan tâm, giúp đỡ. Anh T và chị Th chung sống rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc nhau. Anh T cũng rất yêu thương và chăm sóc các con. Ngoài chung sống cùng anh T thì chị Th không chung sống cùng ai khác, vì anh T lúc đó làm bên quân đội nên trục trặc thủ tục giấy tờ nên hai cháu không đăng ký kết hôn được nhưng hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới nội bộ trong gia đình cho chị Th và anh T. Đến tháng 7/2015 thì anh T bị tại nạn chết nhưng chị Th vẫn làm tròn bổn phận dâu con trong nhà, vẫn đi lại quan tâm đến gia đình anh T. Ông bà cũng ở gần nhà chị Th nên khi các con của chị Th còn nhỏ, ông bà cũng luôn giúp chăm sóc các cháu. Ông bà xác định hai cháu Vũ Hoàng H và Nguyễn Thành Đ là con của chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn T. Ông bà mong Toà án giải quyết đơn cho chị Th để đảm bảo quyền lợi cho các cháu được nhận cha đẻ.

Tại đơn trình bày và đề nghị của bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ anh Vũ Văn T trình bày: Bà và ông Vũ Văn Đ – sinh năm 1927 (mất năm 2012) sinh được 7 người con gồm có: bà Vũ Thị Nh - sinh năm 1947, địa chỉ: Đông Tr - Tiền H – Thái B, bà Vũ Thị D – sinh năm 1949, địa chỉ: Đông Tr - Tiền H – Thái B, ông Vũ Văn T – sinh năm 1954 (mất năm 2015), quê quán: Đông Tr - Tiền H – Thái B; nơi cư trú cuối cùng: Phí G - Đồng C - KT - HD, Ông Vũ Văn T – sinh năm 1961, địa chỉ: Phường Sao Đ - Chí L - HD, Vũ Văn L – sinh năm 1964, địa chỉ: An Th – Phú Q – Kiên G, bà Vũ Thị H – sinh năm 1969, địa chỉ: Đồng H - Tiền H – Thái B và ông Vũ Văn H – sinh năm 1958, trú tại: Khu dân cư Trại S, phường Văn A, thành phố CL, tỉnh HD. Anh T công tác trong quân đội, anh T có quen biết và yêu thương chị Nguyễn Thị Th – sinh năm 1981, trú tại: Phí G - Đồng C – KT - HD hai người chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 cho tới nay và hai người có tổ chức lễ cưới dưới sự chứng kiến của đại diện hai bên gia đình nhưng không có đăng ký kết hôn vì do lúc đó anh T bên quân đội còn thiếu thủ tục giấy tờ nên chưa đăng ký được. Anh T và chị Th có với nhau hai người con là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Do anh T và chị Th không có đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh của hai cháu không có họ tên anh T. Trong thời gian chị Th mang thai hai đứa trẻ thì gia đình trong nhà đều biết và đều ủng hộ. Chị Th và anh T rất yêu thương và chăm sóc nhau, anh T cũng rất yêu quý và chăm sóc hai con H và Đ, có thời gian cả anh T và chị Th về gia đình bà sinh sống. Chị Th là người con dâu tốt biết quan tâm chăm sóc cho gia đình nhà chồng. Sau đó anh T, chị Th cùng các con về chung sống với nhau tại thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT. Đến năm 2015 do anh T không may bị tai nạn và chết. Tuy anh T chết nhưng chị Th vẫn thể hiện vai trò là một người con dâu tốt, hiếu thảo, khi gia đình có việc là thường về giúp và luôn đưa các cháu về chơi với gia đình bên nội. Bản thân bà và gia đình rất quý chị Th và các cháu, các con của anh T cũng luôn yêu quý gia đình ông bà và cũng muốn được về ở gần bà nội của các cháu. Bà xác định hai cháu Vũ Hoàng H và Nguyễn Thành Đ là con của anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị Th. Bà mong Toà án giải quyết theo đơn đề nghị của chị Th để hai cháu H và Đ được nhận cha là anh Vũ Văn T.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Bùi Văn C là cậu ruột chị Th trình bày: Khoảng năm 2010 chị Th và anh Vũ Văn T có chung sống với nhau như vợ chồng tại thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD nhưng không có đăng ký kết hôn và sinh được 2 người con là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Cả hai cháu khai sinh đều không có tên cha trong giấy khai sinh do hai cháu chưa đăng ký kết hôn nhưng hai cháu là con của chị Th và anh T thì họ hàng hai bên đều biết. Bản thân ông cũng luôn coi anh T là con cháu trong gia đình. Anh T cũng luôn làm tròn trách nhiệm của người con trong gia đình ông. Còn chị Th luôn làm tròn bổn phận là con dâu trong gia đình anh T. Chị Th và anh T rất yêu thương nhau và yêu thương các con. Ngoài chung sống cùng anh T thì chị Th không chung sống cùng ai khác, vì anh T lúc đó làm bên quân đội nên trục trặc thủ tục giấy tờ nên không đăng ký kết hôn được nhưng hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới cho chị Th và anh T. Đến tháng 7/2015 thì anh T bị tại nạn chết nhưng chị Th vẫn làm tròn bổn phận dâu con trong nhà. Ông xác định hai cháu Vũ Hoàng H và Nguyễn Thành Đ là con của chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn T. Ông mong Toà án giải quyết đơn cho chị Th để đảm bảo quyền lợi cho các cháu được nhận cha.

Tại biên bản ghi lời khai của cháu Nguyễn Thành Đ trình bày: Cháu là con của mẹ Nguyễn Thị Th và bố Vũ Văn T. Hiện tại cháu đang học lớp 3 trường Tiểu Học Đồng C, huyện KT. Từ lúc nhỏ khi cháu và em cháu là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 nhận biết được anh em chúng cháu chỉ biết có người bố là Vũ Văn T - sinh năm 1954, quê quán: xã Đồng Tr, huyện Tiền H, tỉnh Thái B, nơi cư trú: Thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT, tỉnh HD. Gia đình cháu luôn chỉ có 4 người chung sống với nhau gồm mẹ cháu là Nguyễn Thị Th, bố cháu Vũ Văn T, cháu và em cháu là Vũ Hoàng H, ngoài ra không còn ai khác. Khi còn sống bố cháu luôn yêu thương, quan tâm chăm sóc chúng cháu. Khi bố cháu mất mẹ cháu và chúng cháu rất buồn và nhớ bố. Cháu xác định bố đẻ cháu và cũng là bố đẻ của em cháu Vũ Hoàng H là bố Vũ Văn T. Cháu mong Toà án giải quyết đảm bảo quyền lợi cho anh em cháu để chúng cháu được chính thức nhận cha đẻ của mình.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Vũ Văn H là em trai ông T trình bày: Bố ông là Vũ Văn Đ – sinh năm 1927 (mất năm 2012) và bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1926, địa chỉ: Xóm 3, thôn Phú Th, xã Đông Tr, huyện Tiền H, tỉnh Thái B. Bố mẹ ông sinh được 7 người con trong đó gồm có ông và anh T. Anh Vũ Văn T công tác tại bộ tư lệnh Hải Quân, Bộ Quốc Phòng sau đó nghỉ hưu, năm 2010 anh T có quen biết và yêu chị Nguyễn Thị Th – sinh năm 1981, địa chỉ: Phí G - Đồng C – KT - HD, hai người chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 cho khi anh T chết, có tổ chức lễ cưới dưới sự chứng kiến của đại diện hai bên gia đình nhưng không có đăng ký kết hôn vì do lúc đó anh T bên quân đội còn thiếu thủ tục giấy tờ nên chưa đăng ký được. Anh T và chị Th có với nhau hai người con là Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Do anh T và chị Th không có đăng ký kết hôn nên trong giấy khai sinh của hai cháu không có họ tên anh T. Trong thời gian chị Th mang thai hai đứa trẻ bố mẹ ông và các anh chị em trong nhà đều biết và đều ủng hộ. Chị Th và anh T rất yêu thương và chăm sóc nhau, anh T cũng yêu quý hai con H và Đ, có thời gian cả anh T và chị Th về gia đình bố mẹ ông sinh sống. Chị Th là người con dâu tốt biết quan tâm chăm sóc cho gia đình nhà chồng. Sau đó anh T chị Th cùng các con về chung sống với nhau tại thôn Phí G, xã Đồng C, huyện KT. Đến năm 2015 do anh T không may bị tai nạn và chết. Tuy anh T chết nhưng chị Th vẫn thể hiện vai trò là một người con dâu tốt, hiếu thảo, khi gia đình có việc là thường về giúp và luôn đưa các cháu về chơi với gia đình bên nội. Mẹ ông và các anh chị em ông vẫn rất quý chị Th và các cháu, các con của anh T cũng luôn yêu quý gia đình ông và cũng muốn được về ở gần bà nội của các cháu. Ông xác định hai cháu Vũ Hoàng H và Nguyễn Thành Đ là con của anh Vũ Văn T và chị Nguyễn Thị Th. Ông mong Toà án giải quyết theo đơn đề nghị của chị Th để hai cháu H và Đ được nhận cha là anh Vũ Văn T.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đề nghị Toà án nhân dân huyện Kim Thành áp dụng Điều 88, 90 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th về việc xác định anh Vũ Văn T là cha của cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và cháu Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012. Chị Th phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra công khai tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp. Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, nhận định:

Chị Nguyễn Thị Th yêu cầu Toà án xác định anh Vũ Văn T là cha của cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và cháu Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012 là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn yêu cầu mở phiên họp vắng mặt nên căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị Th, cháu H, cháu Đ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành.

Xét thấy: Chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn T không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức lễ cưới với sự chứng kiến của hai bên gia đình. Anh chị đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến khi anh T chết, luôn yêu thương, quan tâm và chăm sóc nhau. Mặc dù trong giấy khai sinh của hai cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và cháu Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012 đều không có họ tên cha nhưng chị Th đã lấy họ của anh T đặt cho cháu H, gia đình chị Th và gia đình anh T đều xác nhận cha đẻ của hai cháu H và cháu Đ là anh Vũ Văn T. Tại các kết luận giám định ADN của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 có quan hệ huyết thống theo dòng cha và kết luận giám định của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis kết luận cháu Nguyễn Thành Đạt – sinh ngày 05/9/2012 có quan hệ huyết thống theo dòng nội (trên NST Y). Do đó yêu cầu của chị Th về việc xác định anh Vũ Văn T là cha đẻ của cháu Vũ Hoàng H và cháu Nguyễn Thành Đ là có căn cứ nên áp dụng Điều 88, 90 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th và xác định cháu Vũ Hoàng H và cháu Nguyễn Thành Đ là con của anh Vũ Văn T.

Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí và án phí Toà án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 361, 367, 370 và 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, 90 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu xác định cha cho con.

Xác định anh Vũ Văn T là cha của cháu Vũ Hoàng H – sinh ngày 12/11/2014 và cháu Nguyễn Thành Đ – sinh ngày 05/9/2012.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2018/0001573 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, chị Th đã nộp đủ lệ phí.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được niêm yết.

Cỡ chữ