vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 21/01/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Xuân T: Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại: thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình, mất tích.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Xuân T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết dân sự để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào khoản tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Đinh Xuân T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Xuân T: Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại: thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình, mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-DSBa Đồn, ngày 14 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Dương

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 21/2019/TLST-VDS ngày 01 tháng 8 năm 2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 06 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Xuân T; nơi cư trú: Thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. (Anh Đinh Xuân T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, nơi cư trú: Thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 30/7/2019, lời trình bày trong quá trình tố tụng, người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Đinh Xuân T trình bày:

Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H vào ngày 22/8/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng M, huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống cùng gia đình nội tại Thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do chị H sa vào các tệ nạn xã hội, tự ý bán hết các tài sản trong gia đình nhưng vẫn không trả hết nợ vay mượn bên ngoài. Do có nhiều người đến tìm đòi nợ nên chị H đã bỏ đi khỏi nhà và địa phương từ tháng 10/2016 đến nay biệt tích, không để lại địa chỉ. Sau khi chị H bỏ đi, gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, chị H cũng không có lần nào trở về địa phương, không ai biết được địa chỉ hay tin tức gì xác thực là chị H còn sống hay đã chết. Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, anh Đinh Xuân T đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Anh Đinh Xuân T có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị H, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Về nội dung: Anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị H kết hôn vào ngày 22/8/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở tự nguyện; như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Do mâu thuẩn vợ chồng nên chị H đã bỏ đi khỏi nhà và địa phương từ tháng 10/2016 đến nay biệt tích, không để lại địa chỉ. Gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có kết quả, chị H cũng không có lần nào trở về địa phương, không ai biết được địa chỉ hay tin tức chị H ở đâu, làm gì.

Ngày 30/7/2019, Anh T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích. Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị H theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đã quá thời hạn thông báo của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức xác thực chị Nguyễn Thị H còn sống hay đã chết. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình và người thân của chị H nhưng đều được cung cấp thông tin là không có tin tức gì của chị hơn 3 năm nay.

Xét thấy anh Đinh Xuân T và chị Nguyễn Thị H là vợ chồng hợp pháp nên anh T có quyền yêu cầu tuyên bố chị H mất tích; chị H đã biệt tích trên 03 năm liền, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết. Vì vậy, yêu cầu của anh Đinh Xuân T là có cơ sở, cần căn cứ các Điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Xuân T, tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự:

Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết yêu cầu của người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị H đã biệt tích từ tháng 10/2016 đến nay, người yêu cầu và Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết nên đề nghị Tòa án căn cứ các Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Xuân T.

Về lệ phí: Anh Đinh Xuân T phải nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27; Điều 35, 39; khoản 1 Điều 370, Điều 371, 372, 387, 388, 389, khoản 1 Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Đinh Xuân T: Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986, nơi cư trú cuối cùng tại: thôn Nam Minh L, xã Quảng M, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình, mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Đinh Xuân T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết dân sự để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào khoản tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002384 ngày 30 tháng 7 năm 2019. (Anh T đã nộp đủ lệ phí)

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ