vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 29/04/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Tạ văn Thanh.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tạ Văn Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Anh Vũ Văn Th xin tuyên bố chị Nguyễn Thị Th mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Tạ văn Thanh.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-DSTam Điệp, ngày 29 tháng 4 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Ngọc Tú

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Huế – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Tạ văn Th, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Anh Tạ Văn Th; Có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 02/12/2019, bản tự khai anh Tạ Văn Th là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Th được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 01/10/1993 tại Ủy ban nhân dân phường Tr, thị xã T (nay là thành phố T). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do chị Th có nợ nần về tiền bạc. Đến ngày 12/6/2017 chị Th đã bỏ nhà đi từ đó cho đến nay, không liên lạc gì với anh và gia đình. Anh đã tìm kiếm thông tin chị Th qua bạn bè, người thân hai bên nội ngoại và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm kiếm chị Nguyễn Thị Th nhưng đến nay cũng không có tin tức gì của chị Th. Thời gian chị Th biệt tích đến nay đã được hơn hai năm, anh đã tìm kiếm và chờ đợi chị Th trong khoảng thời gian dài nhưng đến nay chị Th vẫn không trở về. Vì vậy anh đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; nơi cư trú cuối cùng số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết việc dân sự là đúng; việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Quan điểm về việc giải quyết nội dung việc dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của anh Tạ Văn Th tuyên bố chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; nơi cư trú cuối cùng số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích; Anh Tạ Văn Thanh phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, theo quy định tại Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

Về nội dung: Anh Tạ Văn Th và chị Nguyễn Thị Th được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 01/10/1993 tại UBND phường Tr, thị xã T (nay là thành phố T) nên quan hệ hôn nhân giữa anh Tạ Văn Th và chị Nguyễn Thị Th là hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự anh Tạ Văn Th có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Th mất tích.

Căn cứ vào đơn xin xác nhận nơi cư trú cuối cùng của anh Tạ văn Th ghi ngày 07/8/2019 có xác nhận của Công an phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là chị Nguyễn Thị Th không có mặt tại địa phương từ ngày 12 tháng 6 năm 2017 cho đến nay. Anh Th cũng giao nộp tài liệu chứng cứ thể hiện anh đã nhắn tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị Th trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 13, 14 và ngày 15 tháng 9 năm 2019 nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Nguyễn Thị Th. Theo biên bản xác minh ngày 20/3/2020 tại gia đình bà Nguyễn Thị B; địa chỉ: thôn Ph, xã M, huyện Ph, tỉnh Hưng Yên (Là chị ruột của chị Nguyễn Thị Th) bà B cho biết chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968 là em ruột của bà, chị Th và anh Tạ Văn Th kết hôn với nhau vào năm 1993 và sinh sống tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Vì lý do mâu thuẫn gia đình nên chị Th đã bỏ nhà đi từ ngày 12/6/2017. Từ đó chị Th cũng không về quê, không liên lạc gì với gia đình nên đến nay gia đình cũng không biết tin tức, địa chỉ của chị Th. Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2020 Công an xã M và Ủy ban nhân xã M, huyện Ph, tỉnh Hưng Yên xác nhận từ tháng 6/2017 đến nay không thấy chị Th có mặt tại địa phương và tại biên bản xác minh ngày 08/4/2020 Công an phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình xác nhận từ ngày 12/6/2017 đến nay chị Nguyễn Thị Th không có mặt tại địa phương.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị Th trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04 và ngày 05 tháng 01 năm 2020; trên báo Công lý ba số liên tiếp 102, 103 và 104 ra các ngày 20, 25 và ngày 27 tháng 12 năm 2019 và trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Bình, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Việc đăng tải thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị Th đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Th.

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: "Khi một người biệt tích từ 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích..."

Như vậy, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Tạ Văn Th về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích.

Anh Tạ Văn Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Tạ văn Thanh.

1. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Th, sinh ngày 03/12/1968; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Số nhà 11, ngõ 15, đường V, tổ 3, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tạ Văn Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh Tạ Văn Th đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án sô AA/2016/0001508 ngày 04/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Anh Tạ Văn Th đã nộp đủ.

Anh Tạ văn Th có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ