vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/10/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Vũ Thị H.

Tuyên bố anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Vũ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN KHÁNH
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-DSYên Khánh, ngày 21 tháng 10 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Nhật Trung.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hải Hà – Thư ký Tòa án nhân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh tham gia phiên họp: Ông Trần Đăng Chuẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2020; người tham gia tố tụng gồm:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Chị Vũ Thị H; có mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 05/5/2020, bản tự khai chị Vũ Thị H là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Chị và anh Cù Văn A được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 22/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện Yên Khánh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 18/4/ 2017 anh A nói với chị và bố mẹ anh A là đi vào trong tỉnh Bình Dương để làm ăn. Kể từ ngày đi cho tới nay anh A không liên lạc gì với chị và gia đình, anh A cũng không về thăm chị và gia đình, bạn bè lần nào. Kể từ khi đi cho đến nay chị và gia đình, cùng bạn bè không có tin tức gì về anh A hiện đang sinh sống và làm gì, ở đâu và còn sống hay đã chết. Chị đã tìm kiếm thông tin anh A qua bạn bè, người thân hai bên nội ngoại và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam để tìm kiếm anh Cù Văn A nhưng đến nay cũng không có tin tức gì của anh A. Thời gian anh A biệt tích đến nay đã được hơn ba năm, chị đã tìm kiếm anh A trong khoảng thời gian dài nhưng đến nay anh A vẫn không trở về. Vì vậy chị đề nghị Tòa án tuyên bố anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; nơi cư trú cuối cùng: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mất tích theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết việc dân sự là đúng quy định; việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quan điểm về việc giải quyết nội dung việc dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị H, tuyên bố anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; nơi cư trú cuối cùng: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mất tích; chị Vũ Thị H phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Về nội dung: Chị Vũ Thị H và anh Cù Văn A được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 22/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện Yên Khánh, quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị H và anh Cù Văn A là hôn nhân hợp pháp. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự chị Vũ Thị H có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Cù Văn A mất tích.

Căn cứ vào đơn xin xác nhận của chị Vũ Thị H ghi ngày 04/5/2020 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện Yên Khánh về nơi cư trú cuối cùng của anh Cù Văn A, thể hiện anh Ankhông có mặt tại địa phương từ ngày 18 tháng 4 năm 2017 cho đến nay. Chị H đã giao nộp tài liệu chứng cứ thể hiện chị đã nhắn tin tìm kiếm anh Cù Văn A trên Báo Công Lý đăng tin vào ngày 12, 17 và ngày 24/6/2020 và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 14, 15 và ngày 16/ 6/ 2020 nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Cù Văn A. Tại biên bản xác minh ngày 12/10/2020 được bà Trịnh Thị P; địa chỉ: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (là mẹ đẻ của anh Cù Văn A) bà P cho biết anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993 là con ruột của bà, anh Cù Văn A và chị Vũ Thị H kết hôn vào năm 2013 và sinh sống tại xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Việc anh A đã bỏ nhà đi từ ngày 18/4/2017 bà không biết vì lý do gì. Từ khi anh A bỏ đi cho đến nay cũng không về quê, không liên lạc gì với gia đình nên đến nay gia đình cũng không biết tin tức, địa chỉ của anh A hiện đang ở đâu và làm gì. Tại biên bản xác minh ngày12/10/2020 được Ủy ban nhân xã Khánh H xác nhận kể từ năm 2017 cho đến nay không thấy anh Cù Văn A có mặt tại địa phương.

Sau khi thụ lý việc dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đã thông báo tìm kiếm anh Cù Văn A; trên báo Công lý ba số liên tiếp 48, 49 và 50 ra các ngày 12, 17 và ngày 24 tháng 6 năm 2020, phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15 và ngày 16 tháng 6 năm 2020 và đăng tin trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Ninh Bình, Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao. Việc đăng tải thông báo tìm kiếm anh Cù Văn A đến nay đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Cù Văn A.

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: "Khi một người biệt tích từ 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích..."

Như vậy, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị H về việc tuyên bố anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mất tích.

Chị Vũ Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Vũ Thị H.

1. Tuyên bố anh Cù Văn A, sinh ngày 08/7/1993; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Xóm N, xã Khánh H, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Vũ Thị H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2013/0002175 ngày 06/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ.

Chị Vũ Thị H có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ