- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Quang N về việc “Tuyên bố một người mất tích”.
- Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 69 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐST - DS | Nam Đàn, ngày 21 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lài.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/TLST-VDS, ngày 21 tháng 7 năm 2020 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 02/2020/QĐST - VDS, ngày 03 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-DS, ngày 11 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Quang N, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Xóm X (nay là xóm Y), xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Ấp TH, xã HN, huyện TB, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 01/7/2020 và tại phiên họp, anh Nguyễn Quang N yêu cầu:
Năm 2010 anh Nguyễn Quang N kết hôn với chị Nguyễn Thị T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và đã có 02 con chung là Nguyễn Quang Tuấn H, sinh ngày 18/12/2010 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 02/4/2013. Từ tháng 5/2015 đến nay chị Nguyễn Thị T bỏ đi không có thông tin, liên lạc gì với anh N và gia đình, không có quan tâm chồng con. Anh N và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng (Báo công lý, Đài Tiếng nói Việt Nam) cũng như nhờ anh em, bạn bè để tìm kiếm nhưng hiện tại không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị Tcòn sống hay đã chết nên anh Nam làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích theo quy định của pháp luật. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung gì nên không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người của chị Nguyễn Thị T khi bị tuyên bố mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nhận định:
. Về quyền yêu cầu: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2010, quyển số 01/2009, ngày 06/11/2010 của UBND xã CC, huyện QH, tỉnh Nghệ An, các tài liệu khác có tại hồ sơ cũng như đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu xác định chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quang N có quan hệ vợ chồng hợp pháp. Vì vậy anh Nguyễn Quang N có quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích theo quy định tại Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Quang N yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú cuối cùng tại xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đây là yêu cầu dân sự về việc tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về xét nội dung yêu cầu: Căn cứ vào đơn yêu cầu, các tài liệu khác có tại hồ sơ, lời trình bày của người yêu cầu trong quá trình giải quyết và tại phiên họp xác định: Chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú cuối cùng tại xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ tháng 5 năm 2015 đến nay chị Nguyễn Thị T biệt tích, không có tin tức gì cho gia đình. Anh Nguyễn Quang N đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng như đăng tin tìm kiếm trên Công lý các số 50, 51, 52 ra các ngày 23, 26, 30 tháng 6/2020 và nhắn tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 18, 19, 20/6/2020 nhưng không có thông tin xác thực về việc chị Nguyễn Thị T còn sống hay đã chết.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo này đã được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 06, 07, 08/8/2020; được đăng tin trên Báo Nhân dân 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 02, 03, 04/8/2019; đăng tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị T. Như vậy, chị Nguyễn Thị T đã biệt tích trên 02 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị T còn sống hay đã chết nên anh Nguyễn Quang N yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự.
. Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Người yêu cầu không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
. Về lệ phí: Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Quang N tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 68, Điều 69 của Bộ luật Dân sự; Điều 149, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Quang N về việc “Tuyên bố một người mất tích”.
2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; nơi cư trú cuối cùng: Xóm X (nay là xóm Y), xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mất tích.
3. Về lệ phí: Anh Nguyễn Quang N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự. Được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí sơ thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0002533, ngày 21 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Quang N đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Nguyễn Quang N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Đàn; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS huyện Nam Đàn; - UBND xã CC, huyện QH, tỉnh Nghệ An; - UBND xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Lài |