vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn L.

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1952; nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG mất tích. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị V bị tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐDS-STLạng giang, ngày 10 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên họp: ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên họp: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-VDS ngày 05 tháng 8 năm 2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2019/QĐPH-VDS ngày 02 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Văn L – sinh năm: 1946

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG (có mặt)

- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Nguyễn Thị V - sinh năm: 1952

Nơi ĐHKTT: Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và các lời khai tiếp theo người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị V có kết hôn với nhau năm 1971 và có 04 người con chung. Trong quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn. Tháng 6 năm 1995 thì bà V bỏ đi đâu không rõ. Gia đình và ông có đi tìm nhiều lần nhưng không thấy và không ai biết bà V hiện nay ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết. Vì vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố bà Nguyễn Thị V mất tích. Về tài sản không có nên ông không yêu cầu về việc giao quản lý tài sản.

Tại phiên họp ông L xác định sau khi gửi đơn đến Tòa án yêu cầu tuyên bố mất tích, ông đề nghị Tòa án thực hiện tiếp việc thông báo tìm kiếm song đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày Đài tiếng nói Việt Nam, Báo Công Lý đăng phát thông tin tiềm kiếm bà Nguyễn Thị V, ông và gia đình cũng không nhận được bất cứ thông tin nào về việc bà V còn sống hay đã chết, vì vậy ông vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố mất tích.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký đã thực hiện việc giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người đã chết đúng trình tự và thủ tục pháp luật quy định. Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét yêu cầu của ông Hoàng Văn L là có cơ sở pháp lý, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông L. Về lệ phí giải quyết việc dân sự, ông L không phải chịu. Ngoài ra kiểm sát viên còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đượcthẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị V là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG nên căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các thủ tục giải quyết việc tuyên bố một người mất tích theo đúng trình tự quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp có mặt đầy đủ những người tiến hành tố tụng cũng như người yêu cầu nên Tòa án mở phiên họp theo quy định Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

Ông Hoàng Văn L xác định bà Nguyễn Thị V đã đi khỏi gia đình và không có tin tức gì kể từ ngày tháng 6 năm 1995, đồng thời xuất trình chứng cứ là xác nhận của đại diện chính quyền địa phương nơi cư trú, quê quán của bà V xác nhận việc trên. Tòa án cũng xác minh tại Công an xã Xuân Hương và Công an xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang đều xác định “Bà Nguyễn Thị V đã đi khỏi địa phương từ năm 1995, từ đó đến nay không có mặt tại địa phương, gia đình ông L cũng như người thân không nhận được bất cứ tin tức gì về việc bà Nguyễn Thị V ở đâu, còn sống hay đã chết”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích số 04/2019/QĐ-TA ngày 20/8/2019 và đăng thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 1,2,3 tháng 9 năm 2019, đăng thông báo trên báo Công lý trên ba số báo liên tiếp là ngày 23, 28, 30/8/2019. Đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên, nhưng đến nay vẫn không có tin tức, thông tin nào xác định bà Nguyễn Thị V còn sống hay đã chết. Tại Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Như vậy từ 1995 đến nay, bà Nguyễn Thị V đi biệt tích và không có bất cứ thông tin nào xác thực việc bà V đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, do đó, ông Hoàng Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị V mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc giao quản lý tài sản: ông Hoàng Văn L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Hoàng Văn L là người cao tuổi nên căn cứ điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông L không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

Đối với chi phí đăng thông tin tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích do người yêu cầu chịu và đã thực hiện xong.

[6]. Đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn L.

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1952; nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn H, xã M Th, huyện LG, tỉnh BG mất tích.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Ông Hoàng Văn L không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyềnthỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ