vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 20/04/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị L: Tuyên bố chị Đinh Thị H sinh năm 1996. Nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO PHONG
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐDS - ST
Ngày: 20/4/2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Mai Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ L số: 01/2019/TB- TA ngày 18 tháng 10 năm 2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2020/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2020; đối với:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Phạm Thị L - sinh năm: 1967

HKTT: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H (vắng mặt có L do)

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Đinh Thị H - sinh năm: 1996

HKTT: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H

NỘI DUNG

Bà Phạm Thị L trình bày: Bà có con trai là Bùi Văn T, sinh năm 1995 có kết hôn với chị Đinh Thị H vào ngày 17/11/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống với vợ chồng bà tại Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H. Đến ngày 26 tháng 5 năm 2015 chị H sinh con tên cháu là Bùi Đinh Long N. Đến ngày 14 tháng 7 năm 2016 chị H bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay, gia đình bà đã liên lạc với người thân và gia đình chị H, con trai bà là anh T đã trực tiếp vào nhà mẹ đẻ chị H tại xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam họ đều cho biết không rõ tung tích chị H ở đâu, từ đó đến nay bà và gia đình vẫn tìm kiếm nhưng không tìm được cũng như không liên lạc được. Đến tháng 10/2017 con trai bà là Bùi Văn T chết do tai nạn giao thông. Hiện nay cháu Bùi Đinh Long N đang được vợ chồng bà nuôi dưỡng. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị H mất tích để làm căn cứ cho cháu N được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/11/2019 bà L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Phong ra Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị H cùng ngày Tòa án nhân dân huyện Cao Phong ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Kết quả thông báo tìm kiếm đối với chị Đinh Thị H đăng trên báo Công L 03 số liên tục vào các ngày 13/11/2019, 15/11/2019 và 21/11/2019. Kết quả nhắn tin tìm chị Đinh Thị H trên Đài Tiếng nói Việt Nam phát 03 ngày liên tục vào các ngày 23, 24 và 25/11/2019. Có cơ sở xác định chị Đinh Thị H bỏ nhà đi từ năm 2016 cho đến nay, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ. Tại biên bản xác minh tại Công an xã Thu Phong đã xác định: Chị Đinh Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H. Từ tháng 4/2016 đến nay, chị H không có mặt tại địa phương nơi cư trú, không khai báo tạm vắng với Công an xã Thu Phong, địa phương không biết chị H đi đâu, làm gì, ở đâu.

Tại biên bản xác minh với ông Bùi Văn Thái (Trưởng xóm Thiều Nau, xã Thu Phong), ông Thái cung cấp: Năm 2014 chị H kết hôn với anh Bùi Văn T, nên chị H đã nhập khẩu về nhà bà Phạm Thị L (là mẹ đẻ anh T) tại Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H, đến tháng 4/2016 chị Đinh Thị H bỏ đi khỏi địa phương, đến nay không có tin tức. Trước khi đi, chị H không thông báo gì với xóm nên không ai nắm được thông tin hiện tại chị H đang làm gì, ở đâu, năm 2017 anh T chồng chị H đã chết vì tai nạn giao thông.

Cũng theo lời trình bầy của người yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Phong có công văn số 16/CV-TA ngày 03/3/2020 đề nghị Công an xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam (là nhà bố mẹ đẻ chị H) cung cấp thời gian từ năm 2016 đến nay chị Đinh Thị H có mặt tại địa phương không?

Kết quả trả lời của Công an xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam: Trường hợp công dân Đinh Thị H, sinh năm 1996 hiện nay không còn cư trú trên địa bàn xã Trà Tân.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, thấy rằng yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích của bà Phạm Thị L đối với chị Đinh Thị H là có căn cứ.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Phong căn cứ các điều 369, 370 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị L về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đinh Thị H mất tích.

Về lệ phí: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H: Nguời yêu cầu bà Phạm Thị L phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cao Phong nhận định:

. Về thẩm quyền:

Chị Đinh Thị H, sinh năm 1996, nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H bà Phạm Thị L yêu cầu tuyên bố chị H mất tích là yêu cầu về việc dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Do đó Tòa án nhân dân huyện Cao Phong thụ L giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về tố tụng:

Quá trình thụ L và giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và ra Thông báo tìm kiếm chị Đinh Thị H đăng trên báo Công L, Đài Tiếng nói Việt Nam. Kể từ khi đăng phát thông báo lần đầu tiên đến nay đã hết thời hạn 4 tháng, xét thấy đủ điều kiện Tòa án đã ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Phạm Thị L có con trai là Bùi Văn T, sinh năm 1995 có kết hôn với chị Đinh Thị H vào ngày 17/11/2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh H, Đến ngày 26 tháng 5 năm 2015 thì chị H sinh con tên cháu là Bùi Đinh Long N. Đến ngày 14 tháng 7 năm 2016 chị H bỏ nhà đi biệt tích đến nay. Đến khoảng tháng 10/2017 con trai bà là Bùi Văn T chết do tai nạn giao thông.

Bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị H mất tích bà cho rằng chị H biệt tích từ tháng 7 năm 2016, bà cùng gia đình đi tìm nhưng đến nay không rõ tung tích của chị H.

Xét lời khai của bà L phù hợp với chứng cứ do Tòa án thu thập như lời khai của những người làm chứng, Công an xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, các Báo Công L, Đài tiếng nói Việt nam. Thấy rằng tại thời điểm năm 2015 chị H sinh sống tại Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H. Từ năm 2016 đến nay thì chị H không còn sinh sống tại địa phương. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Cao Phong có ban hành Công văn số 01/TA-DS ngày 01/11/2019 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Qua thời gian 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng báo và nhắn tin tìm kiếm trên thông tin đại chúng nhưng chị H cũng không trở về và không có tin tức gì về chị H. Như vậy cho thấy chị H đã biệt tích trên 2 năm, do đó bà Phạm Thị L yêu cầu tuyên bố chị Đinh Thị H mất tích là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét chấp nhận

Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ, nên được chấp nhận.

. Về chi phí nhắn tin: Bà L đã nộp đủ thể hiện trên biên lai thu hóa đơn giá trị gia tăng. Tổng số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị L chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Điều 21, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều, 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị L: Tuyên bố chị Đinh Thị H

- sinh năm 1996. Nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh H mất tích.

2. Về chi phí nhắn tin: Tổng số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), Bà Phạm Thị L đã nộp đủ.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cao Phong theo biên lai thu số 0000943 ngày 18/10/2019.

4. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị L có quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Chị Đinh Thị H có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Quyết định được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ