- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hà Văn T. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐ-VDS Ngày: 25-5-2020 V/v: Tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Mậu Đảo - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Duy Triều - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 30/2019/TLST-VDS ngày 09 tháng 12 năm 2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp số 01/2020/QĐST-VDS ngày 15 tháng 5 năm 2020
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Hà Văn T, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 05-02-1987; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1987, vợ của anh Hà Văn T, đăng ký kết hôn ngày 29-11-2010, tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (nơi cư trú cuối cùng) tại thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do chị Nguyễn Thị Hoài T bỏ nhà ra đi từ ngày 14-10-2016, biệt tích đến nay, không có thông tin, liên lạc gì với gia đình là chồng, con và bố mẹ chồng. Anh T và gia đình đã nỗ lực tìm kiếm thông tin, địa chỉ đối với chị T nhiều người, nhiều nơi nhưng không biết chị T ở đâu, còn sống hay đã chết; không có tin tức, thông tin gì về chị T.
Qua xác minh thu thập chứng cứ từ người thân của gia đình anh T và chính quyền địa phương thì chị T đã đi khỏi địa phương từ năm 2016, không khai báo với chính quyền địa phương, không rõ tung tích; không ai biết chị T đi đâu, làm gì; không có tin tức gì, không ai thông tin liên lạc gì được với chị T. Ngày biết được tin tức cuối cùng của chị T là ngày14 tháng 10 năm 2016.
Mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự: Nhắn tin tìm kiếm trên Báo Nhân Dân trong 03 số liên tiếp: Số 23468 ngày 17 tháng 01 năm 2020, Số 23469 ngày 18 tháng 01 năm 2020, Số 23470 ngày 19 tháng 01 năm 2020; đưa tin tìm kiếm phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp, phát lúc 17h 30, các ngày 25, 26, 27 tháng 01 năm 2020; Nhắn tin tìm kiếm đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao ngày 14 tháng 02 năm 2020; nhắn tin tìm kiếm đăng tải trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình ngày 19 tháng 02 năm 2020 nhưng đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực gì về việc chị Nguyễn Thị Hoài T hiện đang ở đâu; còn sống hay đã chết.
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng và người yêu cầu giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích đều có hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình do đó, việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Hà Văn T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Hoài T mất tích theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ; có cơ sở theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự.
Đương sự không có yêu cầu giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích, nên Tòa án không xem xét.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh về việc giải quyết việc dân sự: Việc thụ lý, tiến hành thủ tục, tố tụng giải quyết của Thẩm phán, Thư ký; việc tham gia tố tụng của đương sự đã thực hiện, tiến hành và chấp hành đầy đủ, tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Anh Hà Văn T và chị Nguyễn Thị Hoài T kết hôn ngày 29-11-2010, tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; chung sống với gia đình anh T ở thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Ngày 14-10-2016, chị T bỏ nhà ra đi không nói rõ lý do và biệt tích từ đó đến nay. Anh T; Tòa án đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức của chị Nguyễn Thị Hoài T. Do đó, việc anh Hà Văn T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Hoài T mất tích là có cơ sở, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh áp dụng Điều 68 của Bộ luật dân sự và các điều 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của anh Hà Văn T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Hoài Thanh mất tích.
Chị Nguyễn Thị Hoài T biệt tích đã quá thời hạn 02 năm; anh Hà Văn T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Hoài T mất tích là có căn cứ pháp luật và thực tế; ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh là có cơ sở chấp nhận.
Anh Hà Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; các điều 370, 371, 372, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Hà Văn T. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án anh Hà Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Số tiền lệ phí anh T phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004842, ngày 09-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKS huyện Quảng Ninh; - THADS huyện Q; - UBND xã V; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Lưu HS. | (Đã ký) Nguyễn Mậu Đảo |