vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐ-TA

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 10/01/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L1, huyện C, tỉnh An Giang;

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Đặng Nhựt Tr là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 21/10/2019. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay. VSKND tỉnh AG; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đặng Nhựt Tr"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L1, huyện C, tỉnh An Giang;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 36 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 96 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Đối tượng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐ-TAAn Giang, ngày 10 tháng 01 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Tòa án

áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông La Hồng;

2. Thư ký phiên họp: Ông Hồ Trung Châu– Thẩm tra viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, địa chỉ: Ấp Giồng Cát, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại của ông Đặng Nhựt Tr về Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 66/QĐ-TA ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện C về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Đặng Nhựt Tr, giới tính: Nam;

Sinh năm: 1994;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Hòa hảo;

Trình độ học vấn: 6/12;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L1, huyện C, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn là 03 tháng theo Quyết định số 98/QĐ-UBND ngày 01/11/2018 của Ủy ban nhân dân xã L1, huyện C.

Con ông: Đặng Văn L và bà Thạch Thị T;

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, có ông Nguyễn Văn Th, chức vụ Chuyên viên, đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 07/01/2020 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Lương Thúy Hạnh, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 01/11/2018, Ủy ban nhân dân xã L1 đã ban hành Quyết định số 98/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Tr với thời hạn là 03 tháng. Ngày 04/02/2019, Tr được chứng nhận đã chấp hành xong thời gian giáo dục tại xã theo giấy chứng nhận số 05/GCN-UBND của Ủy ban nhân dân xã L1. Ngày 21/10/2019 Công an xã L1 mời Tr đến kiểm tra thử Test tìm chất ma túy, Tr thừa nhận có sử dụng ma túy đá. Phiếu trả lời kết quả ngày 26/10/2019 của Cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang khẳng định Tr có nghiện ma túy Amphetamine (ATS). Ủy ban nhân dân xã L1 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr theo quy định Điều 103 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C gửi Văn bản số 484/CV-LĐTBXH ngày 02/12/2019 cùng toàn bộ hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Tr vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn 24 tháng. Tại Quyết định số 66/QĐ-TA ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang: 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr; 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tr là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày 21/10/2019. Ngoài ra Quyết định còn nêu quyền khiếu nại của người bị đề nghị, quyền kiến nghị của cơ quan đề nghị, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Ngày 20/12/2019, Tr có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ thời hạn chấp hành cai nghiện vì bản thân mới vi phạm lần đầu. Tại phiên họp hôm nay; Tr giữ nguyên nội dung khiếu nạị yêu cầu được giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc vì vi phạm lần đầu và còn nêu thêm tình tiết bản thân và gia đình chấp hành các quy định ở địa phương. Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị xem xét hoàn cảnh cụ thể của người bị đề nghị. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu: Những người tiến hành phiên họp đã tuân theo đúng quy định về trình tự, thủ tục phiên họp.

Về thời hạn áp dụng đối với người bị đề nghị của Tòa án nhân dân huyện C là tương xứng. Tuy nhiên, hoàn cảnh của gia đình người bị đề nghị gặp khó khăn, đề nghị giảm thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc để có điều kiện sum họp gia đình, lo dạy con.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, ý kiến của Kiểm sát viên, người khiếu nại và cơ quan đề nghị, nhận thấy:

- Về thủ tục khiếu nại: Tr khiếu nại trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét, giải quyết.

- Về nội dung khiếu nại:

Theo khoản 1 Điều 96 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc): Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tu i trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà v n còn nghiện ...

Tr đã bị Ủy ban nhân dân xã L1 ban hành Quyết định số 98/QĐ-UBND ngày 01/11/2018 áp dụng biện pháp xử lý hành chính quản lý, giáo dục tại xã thời hạn 3 tháng. Đến ngày 21/10/2019, Tr tiếp tục sử dụng ma túy.

Tòa án nhân dân huyện C ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr là có căn cứ pháp luật.

Quy định tại khoản 2 Điều 95 Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng .

Tòa án nhân dân huyện C đã căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để áp dụng thời hạn chấp hành cho Tr.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 nhân thân) của Nghị quyết 01-HĐTP ngày 18 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Đối với các quyết định xử lý của cơ quan, đoàn thể, t chức xã hội mà pháp luật chưa quy định thời hạn để được coi như chưa bị xử lý, nếu tính từ ngày ra quyết định xử lý đến ngày phạm tội đã quá 1 năm, thì không coi là có tiền sự nữa . Trường đã được chứng nhận chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường theo giấy chứng nhận số 05/GCN-UBND ngày 04/02/2019 của Ủy ban nhân dân xã L1. Đến ngày 21/10/2019, Trưởng tiếp tục vi phạm thì coi như có tiền sự. Nhận định của Tòa án nhân dân huyện C là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Việc khiếu nại và tại phiên họp hôm nay, người bị đề nghị cho là vi phạm lần đầu để được xem là có tình tiết giảm nhẹ. Thấy rằng, Tr đã sử dụng ma túy bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là điều kiện cần, lại tiếp tục vi phạm và bị xử lý cai nghiện bắt buộc là điều kiện đủ. Kết luận Tr không có tình tiết tăng nặng và cũng không có tình tiết giảm nhẹ. Áp dụng nguyên tắc tương tự được quy định tại khoản 4 Điều 23 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính để lấy mức trung bình của khung áp dụng, chấp nhận một phần khiếu nại, sửa quyết định của Tòa án nhân dân huyện C. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 35, Điều 36 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Chấp nhận một phần khiếu nại của ông Tr, sửa Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 66/QĐ-TA ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện C.

- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tr, sinh năm: 1994, hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L1, huyện C, tỉnh An Giang;

- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Đặng Nhựt Tr là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 21/10/2019. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.

Cỡ chữ