vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 05/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 14/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố P và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 59/2019/TLPT-DS ngày 27/12/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số X đường Y, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị L1 và bà Đinh Thị L2"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 14/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố P và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 59/2019/TLPT-DS ngày 27/12/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐ-PTNinh Thuận, ngày 05 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

HUỶ BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hưng Dũng

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Dịu

Ông Nguyễn Văn Được

Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Tòa án thành phố P bị kháng cáo như sau:

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, bị đơn bà Đinh Thị L2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 14/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố P. Nội dung kháng cáo: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L1.

XÉT THẤY:

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L1 có Đơn xin rút đơn khởi kiện và bị đơn bà Đinh Thị L2 có Đơn xin rút đơn kháng cáo. Tại biên bản làm việc ngày 16 tháng 01 năm 2020, bà L2 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn C có ý kiến đồng ý việc rút đơn khởi kiện của bà L1.

Việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, rút đơn kháng cáo của bị đơn và việc bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Về án phí: Ngày 17/01/2020, bà L2 có Đơn xin miễn, giảm án phí dân sự sơ thẩm do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 14/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố P và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 59/2019/TLPT-DS ngày 27/12/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Số X đường Y, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: 1. Bà Đinh Thị L2, sinh năm 1968;

2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1958;

Cùng địa chỉ: Số 108 Chung cư C2 đường Hồ Xuân Hương, phường Thanh Sơn, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà L1 số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0018505 ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Bà Đinh Thị L2 phải chịu 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Văn C được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đinh Thị L2 phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0020493 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Hoàn trả cho bà L2 số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 05/02/2020.

Cỡ chữ