- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố mất tích Hiền hạnh"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bà H1, sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-VDS. Ngày: 28-02-2019. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v tuyên bố một người mất tích”.
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Trúc Linh.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.
Đại diện VKSND huyện Cư Jút tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 28/02/2019, tại phòng họp Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 98/2018/TLST-VDS, ngày 02 tháng 8 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 05/2019/QĐ-MPH ngày 11 tháng 02 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông H, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà H, sinh năm 1969.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, bản tự khai và tại phiên họp, ông H trình bày:
Ông H và bà H1 chung sống từ năm 1986, không có đăng ký kết hôn theo quy định, việc chung sống là hoàn toàn tự nguyện; quá trình chung sống vợ chồng không có xảy ra mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 1995 bà H1tự ý bỏ nhà đi theo người làm công cho gia đình ông H, từ đó cho đến nay không quay về; ông H đã tìm kiếm nhiều nơi, áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về bà H1. Nay để yên tâm làm ăn cũng như thuận tiện trong cuộc sống, ông H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H1mất tích. Ngoài ra ông H không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà H1.
Theo yêu cầu của ông H, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 07/2018/QĐ-TBTK ngày 21/8/2018 đối với bà H1. Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà H1đã được phát trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 04, 05 và 06/9/2018 và đăng thông báo tìm kiếm trên báo Công lý số 79 ngày 03/10/2018; số 80 ngày 05/10/2018; số 81 ngày 10/10/2018. Hết thời gian thông báo nhưng bà H1vẫn không trở về địa phương, không ai biết tin tức gì về bà H1.
Tại phiên họp, ông H giữ nguyên quan điểm yêu cầu tuyên bố bà H1mất tích.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Về phía người yêu cầu là ông H đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được pháp luật quy định. Người có quyền lợi ích liên quan bà H1 không có mặt ở địa phương; Tòa án nhân dân huyện Cư Jút đã tiến hành lập biên bản xác minh và thực hiện thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.
- Về nội dung vụ việc: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông H đối với bà H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả xét hỏi, xét thấy:
. Về tố tụng:
- Thẩm quyền và quan hệ pháp luật giải quyết: Ông H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông tuyên bố một người mất tích đối với bà H1 theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H1 là người có quyền, lợi ích liên quan có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Ông H và bà H1 tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1986 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Bà H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ, từ năm 1995 bỏ đi khỏi địa phương, không có đăng ký tạm vắng không ai biết tin tức gì. Tại xã T, huyện C, tỉnh Đ bà H1 không có người thân thích, họ hàng. Theo kết quả xác minh tại địa phương, bà H1đã bỏ đi đâu không rõ từ năm 1995 đến nay không có tin tức gì.
Ông H đã tiến hành các biện pháp tìm kiếm trong một thời gian dài nhưng không có kết quả; Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành thông báo tìm kiếm đối với bà H1trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào ngày 04, 05 và 06/9/2018 và đăng thông báo tìm kiếm trên báo Công lý số 79 ngày 03/10/2018; số 80 ngày 05/10/2018; số 81 ngày 10/10/2018 theo đúng quy định. Tuy nhiên cho đến nay thời hạn thông báo tìm kiếm đã hết nhưng vẫn không có tin tức gì của bà H1.
Tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự quy định “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”. Do đó, đơn yêu cầu tuyên bố một người mất của ông H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà H1 là phù hợp với Điều 362 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án chấp nhận. Các vấn đề khác ông H không yêu cầu nên không đề cập xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 362; Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Điều 35 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bà H1, sinh năm 1969, nơi cư trú cuối cùng thôn 13, xã T, huyện C, tỉnh Đ mất tích.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự ông H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002799 ngày 02/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Tòa án niêm yết quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkNông; - VKSND huyện Cư Jút; - CCTHADS huyện C; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | PHAN THỊ TRÚC LINH |