vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

Lưu: Hồ sơ việc dân sự. Trần Trung Thành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QDĐC giải quyết VDS giữa NYC Nguyễn Thị H- NBYC Lê Sỹ Q"
  • Tòa quyết gì? Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • Căn cứ chính? Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-VDSBố Trạch, ngày 03 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ VIỆC XÉT ĐƠN YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLST-VDS ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Quảng Bình.

- Người bị yêu cầu: Anh Lê Sỹ Q, sinh ngày 06/9/1983. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Quảng Bình.

Xét thấy người yêu cầu là bà Nguyễn Thị H có đơn rút yêu cầu giải quyết việc dân sự là hoàn toàn tự nguyện;

Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2018/TLST-VDS ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Điều 2. Hậu quả việc đình chỉ giải quyết việc dân sự: Sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2017-0002997, ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Điều 3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 07 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

Cỡ chữ