vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-TBMT — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 02/01/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Mai Thanh Th.

Tuyên bố: - Chị Mai Thị X - sinh năm 1979. Anh Mai Thanh Th - sinh ngày 05/7/2001. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "anh mai Thanh Th yêu cầu tuyên bố người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Mai Thanh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-TBMTNga Sơn, ngày 02 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích)

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Xuân Hùng.

Thư ký phiên họp: Ông Phan Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở TAND huyện N, tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 28/2018/TLST-VDS ngày 08 tháng 8 năm 2018, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 28/2018/QĐPH-ST ngày 17 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

-Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Mai Thanh Th - sinh năm 1977.

Địa chỉ: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa(có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Mai Thị X – sinh năm 1979.

Anh Mai Thanh Th – sinh năm 2001.

Cùng địa chỉ: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa(vắng mặt).

Nơi cư trú cuối cùng: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và bản tự khai của anh Mai Thanh Th: Anh Th và chị Mai Thị X kết hôn với nhau vào tháng 02 năm 1998 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh đi làm ăn xa, ở nhà chị X có quan hệ ngoại tình, anh đã khuyên bảo nhưng chị X vẫn không chịu thay đổi. Đến tháng 3 năm 2011, chị X đã tự ý đem theo con trai là Mai Thanh Th – sinh ngày 05/7/2001 bỏ đi khỏi gia đình và địa phương. Anh và gia đình đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của chị X và cháu Th. Vì lý do trên, anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố chị Mai Thị X và cháu Mai Thanh Th mất tích.

Về con chung: Anh và chị X có 02 con chung là Mai Thị Thanh T – sinh ngày 01/8/1999 và Mai Thanh Th – sinh ngày 05/7/2001. Hiện chị T đã đủ tuổi trưởng thành nên anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Th, anh yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích cùng chị X.

Về tài sản: Anh Th không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chị Mai Thị X.

Sau khi anh Mai Thanh Th có đơn yêu cầu. Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo đã được nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Nhân dân theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện N nhận định:

Việc chị Mai Thị X và anh Mai Thanh Th bỏ nhà đi từ tháng 3 năm 2011 đến nay là thực tế, các tài liệu phản ánh trong hồ sơ và ý kiến trình bày của anh Th, thể hiện từ đó đến nay anh Th không có tin tức gì của chị X, anh Th. Tòa án nhân dân huyện N đã áp dụng biện pháp tìm kiếm, đăng tin, nhắn tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể là: Nhắn tin trên Báo Nhân dân 03 số liên tiếp từ ngày 25, 26, 27 tháng 8 năm 2018, nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 11 giờ 50 phút từ ngày 26, 27, 28 tháng 8 năm 2018. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhắn tin theo qui định của pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức gì của chị X, anh Th. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định chị X, anh Th đã mất tích. Do đó, nghĩ cần chấp nhận yêu cầu của anh Mai Thanh Th về việc tuyên bố chị Mai Thị X, anh Mai Thanh Th mất tích.

Về con chung: Anh Mai Thanh Th và chị Mai Thị X có 02 con chung là Mai Thị Thanh T – sinh ngày 01/8/1999 và Mai Thanh Th – sinh ngày 05/7/2001. Hiện chị T đã đủ tuổi trưởng thành, đã tự lập được cuộc sống riêng, nên anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật. Còn anh Th, anh Th yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích cùng chị X là có căn cứ.

Về tài sản: Anh Mai Thanh Th không yêu cầu nên không phải áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người mất tích theo qui định của Bộ luật dân sự.

Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Theo qui định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự, thì chi phí trên do người yêu cầu chịu. Do vậy, anh Mai Thanh Th phải chịu chi phí đăng, phát thông báo.

Về lệ phí: Anh Mai Thanh Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự. Điều 361, 366, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Mai Thanh Th.

2. Tuyên bố: - Chị Mai Thị X - sinh năm 1979.

- Anh Mai Thanh Th - sinh ngày 05/7/2001.

Nơi cư trú cuối cùng: xóm 5, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đã mất tích.

3. Về lệ phí: Anh Mai Thanh Th phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0004857 ngày 07/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh Th đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Phiên họp sơ thẩm công khai có mặt anh Th. Báo cho anh Th biết được quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện N; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ