- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐST-HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu công nhân cha cho con của anh Nguyễn Tiến Đ.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình công nhận ông Lê Duy P; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-HNGĐ | Cẩm Xuyên, ngày 26 tháng 7 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Duy Hoàng.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Diệu Thúy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 97/2019/TLST-VHNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2019 về việc “Yêu cầu công nhận cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân gia đình số: 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019.
- Người yêu cầu: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1971 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Trung Đ, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, Hà Tĩnh
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1947 (có mặt) Nơi cư trú: Thôn Hoàng V, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh
2. Ông Lê Duy Ph, sinh năm 1958 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 261 đường H, phường 11, quận 5, tp Hồ Chí Minh
3. Bà Lê Thị P, sinh năm 1952 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm 7, xã Sơn P, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh
4. Bà Lê Thị K, sinh năm 1952 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh
5. Bà Lê Thị X, sinh năm 1962 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Thanh T, xã T, huyện Phú T, tỉnh Gia Lai
6. Ông Lê Duy Ư, sinh năm 1946 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân 13, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh
7. Bà Lê Thị Ô, sinh năm 1932 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 13, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu đề ngày 03/01/2019 và tại phiên họp, anh Nguyễn Tiến Đ trình bày: Vào năm 1970 bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ anh Nguyễn Tiến Đ) có gặp và có quan hệ tình cảm với ông Lê Duy P, sinh năm 1925, trú tại: xã Cẩm T cũ (nay là thị trấn Cẩm X), huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh và sinh ra anh Nguyễn Tiến Đ. Vì lúc đó ông Lê Duy P đã có gia đình nên bà Nguyễn Thị T khai sinh cho anh Đ theo họ mẹ. Sau khi ông Lê Duy P mất, anh Đ thường xuyên đi lại với các con của ông P, anh em họ tộc họ Lê và được các con của ông P, anh em họ tộc họ Lê công nhận anh là con của ông Lê Duy P. Nay anh yêu cầu tòa án công nhận anh là con của ông Lê Duy P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào năm 1970, bà có quan hệ tỉnh cảm với ông Lê Duy P, trú tại: xã Cẩm T cũ (nay là thị trấn Cẩm X), huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh và sinh ra anh Nguyễn Tiến Đ. Vì lúc đó ông Lê Duy P đã có gia đình nên tôi khai sinh cho anh Đ theo họ mẹ. Nguyện vọng của bà là muốn anh Đ được nhận ông P làm cha để tiện qua lại với anh em họ tộc Lê và cải chính sang họ cha. Bà cam đoan tất cả những nội dung trên là hoàn toàn sự thật có gì sai sót bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Trong bản tự khai, biên bản lấy lời khai, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Duy Ph, Lê Thị P, Lê Thị K và Lê Thị X (đều là con đẻ ông Lê Duy P); ông Lê Duy Ư, bà Lê Thị Ô (em ruột của ông Lê Duy P) đều trình bày và thừa nhận: Ông Lê Duy P và bà Bùi Thị Th có bốn người con là ông P, bà Phù, bà K và bà X. Tuy nhiên, ông Lê Duy P có quan hệ tình cảm và có một người con riêng với bà Nguyễn Thị T có địa chỉ tại xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh là anh Nguyễn Tiến Đ. Nay nguyện vọng của anh Đ muốn được Tòa án công nhận ông Lê Duy P là cha ruột, thì ông Ph, bà Phùng, bà K, bà X, ông Ư, bà Ô đều hoàn toàn Đ đồng ý vì trên thực tế giữa các ông, bà và anh Đ đã thường xuyên đi lại, thừa nhận anh Đ là con của ông P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về sự tuân theo pháp luật tố tụng đối với vụ án, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự pháp luật, giải quyết đúng thẩm quyền, đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình và căn cứ Khoản 10 điều 29, Điều 366, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 90, Khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình công nhận ông Lê Duy P là cha đẻ của anh Nguyễn Tiến Đ; buộc anh Đ phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc hôn nhân gia đình của anh Nguyễn Tiến Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên theo quy định tại điểm Khoản 10 Điều 29, điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, tại thời điểm yêu cầu, người được yêu cầu là ông Lê Duy P đã chết nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 2 Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Duy Ph, bà Lê Thị P, bà Lê Thị K, bà Lê Thị X, ông Lê Duy Ư, bà Lê Thị Ô đều có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Khoản 2 Điều 367 BLTTDS Tòa án giải quyết theo quy định.
Về nội dung:
Xét đơn yêu cầu của anh Nguyễn Tiến Đ về việc yêu cầu công nhận ông Lê Duy P là cha đẻ của anh; Biên bản thỏa thuận về việc công nhận anh Nguyễn Tiến Đ là con của ông Lê Duy P; Biên bản họp họ tộc họ Lê; Văn bản thống nhất họ tộc; Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết việc dân sự, thấy rằng: Bà Nguyễn Thị T thừa nhận, vào năm 1970 bà gặp và có quan hệ tình cảm với ông Lê Duy P, trú tại: xã Cẩm T cũ (nay là thị trấn Cẩm X), huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh và sinh ra anh Nguyễn Tiến Đ, lúc đó ông P đã lập gia đình nên khi đi làm thủ tục khai sinh cho anh Đ, bà để anh Đ mang họ mẹ, bà cam đoan tất cả những nội dung trên hoàn toàn đúng sự thật có gì sai sót bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thực tế anh Đ và các con của ông Lê Duy P, họ tộc họ Lê đã thường xuyên qua lại với nhau như một người nhà; các con của ông P đều nhất trí như trình bày của bà Lê Thị T và thừa nhận anh Nguyễn Tiến Đ là con của ông Lê Duy P, mong muốn Tòa án công nhận anh Đ là con đẻ của ông P. Mặt khác, qua xác minh tại xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh thì từ trước đến nay bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến Đ đăng ký hộ khẩu tại địa phương; bà Nguyễn Thị T chưa kết hôn với ai và người đăng ký khai sinh cho anh Đ; tại thời điểm giải quyết việc dân sự, UBND thị trấn Cẩm X xác nhận ông Lê Duy P và bà Bùi Thị T đã mất, ông, bà có 04 người con như các đương sự đã trình bày.
Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Tiến Đ về việc yêu cầu Tòa án công nhận ông Lê Duy P là cha đẻ của mình.
Về lệ phí: Anh Nguyễn Tiến Đ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm Khoản 10 Điều 29, Điểm t khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 366, Khoản 2 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 90, Khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 36, Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
2. Chấp nhận yêu cầu công nhân cha cho con của anh Nguyễn Tiến Đ. Tuyên bố ông Lê Duy P, sinh năm 1925 (đã chết) có nơi cứ trú cuối cùng tại tổ 13, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh là cha đẻ của anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1971; trú tại: Thôn Trung Đ, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, anh Nguyễn Tiến Đ có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm lại thủ tục cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật.
3. Về lệ phí: Anh Nguyễn Tiến Đ phải chịu 300.000đồng tiền lệ phí việc hôn nhân gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đã nộp theo biên lai số 0003311 ngày 25/06/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THA.DS huyện Cẩm Xuyên; - UBND xã Cẩm D; - Các đương sự; - Lưu án văn; | CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Duy Hoàng |