vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn đối với người yêu cầu là chị Vũ Thị T và anh Đoàn Văn S, cụ thể:

Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Đoàn Thị Thu U, sinh ngày 20-10-2004 và cháu Đoàn Yến V, sinh ngày 17-5-2009. Chị T và anh S thống nhất giao cháu U và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn đối với người yêu cầu là chị Vũ Thị T và anh Đoàn Văn S, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-HNGĐĐồ Sơn, ngày 19 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lưu Văn Năm.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 16/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2019 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/QĐ-TA ngày 11 tháng 3 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Chị Vũ Thị T, nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị vắng mặt.

+ Anh Đoàn Văn S, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Chị Vũ Thị T và anh Đoàn Văn S yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận về các nội dung sau:

1. Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Đoàn Thị Thu U, sinh ngày 20-10-2004 và cháu Đoàn Yến V, sinh ngày 17-5-2009. Chị T và anh S đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể: Chị T và anh S thống nhất giao cháu U và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về lệ phí: Chị T và anh S thỏa thuận giao cho chị T nộp toàn bộ lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Chị Vũ Thị T và anh Đoàn Văn S có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh S có nơi cư trú tại tổ dân phố Đức Hậu, phường Hợp Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 35, điểm i khoản 2 Điều 39, yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của người yêu cầu: Chị T và anh S vắng mặt tại phiên họp nhưng đã có đơn đề nghị vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt chị T và anh S.

Về nội dung yêu cầu:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 27-02-2019 và bản tự khai, chị T và anh S trình bày: Anh chị kết hôn với nhau từ năm 2007. Sau một thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn nên đã làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn và đã được Tòa án cấp Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 45/2017/QĐST-HNGĐ ngày 08-8-2017. Theo Quyết định trên, anh chị thỏa thuận giao các con chung là cháu Đoàn Thị Thu U, sinh ngày 20-10-2004 và cháu Đoàn Yến V, sinh ngày 17-5-2009 cho anh S nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, do hiện nay anh S không có việc làm, thu nhập ổn định nên không đảm bảo được cuộc sống cho các cháu; anh S cũng ít khi gần gũi, chăm sóc các con, các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa các cháu là con gái, lại đang trong giai đoạn phát triển về tâm sinh lý. Chính vì vậy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu sinh hoạt, học tập và đúng với nguyện vọng của các cháu, anh chị đề nghị Tòa án giao cháu Đoàn Thị Thu U, sinh ngày 20-10-2004 và cháu Đoàn Yến V, sinh ngày 17-5-2009 cho chị T nuôi dưỡng; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bố mẹ chị T, anh S cũng đã có trình bày về hoàn cảnh, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các con của chị T, anh S và đều có ý kiến thống nhất đồng ý giao cháu U và cháu V cho chị T nuôi dưỡng. Ông Vũ Văn C và bà Bùi Thị X - là bố mẹ đẻ chị T có cam đoan về việc sẽ tạo điều kiện cho chị T và các con về chỗ ăn ở, sinh hoạt và sẽ hỗ trợ, giúp đỡ chị T trong việc chăm sóc các con.

Tại đơn đề nghị ghi ngày 18-02-2019, cháu U và cháu V đã thể hiện nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ.

Tại phiên họp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về trình tự, thủ tục tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Sau khi ly hôn, anh S không có việc làm, thu nhập ổn định; cũng ít khi gần gũi, chăm sóc cháu U và cháu V. Nay chị T và anh S đều thống nhất giao các con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận; cháu U và cháu V đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 416, 417 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T và anh S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Xét thấy, chị T và anh S có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; dựa trên điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của hai bên, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của các cháu. Vì vậy, việc chị T, anh S yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 417 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần chấp nhận.

Về lệ phí Tòa án: Chị T và anh S thỏa thuận giao cho chị T nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị T và anh S về lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm i khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 416, Điều 417, Điều 419 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn đối với người yêu cầu là chị Vũ Thị T và anh Đoàn Văn S, cụ thể:

Chị T và anh S có 02 con chung là cháu Đoàn Thị Thu U, sinh ngày 20-10-2004 và cháu Đoàn Yến V, sinh ngày 17-5-2009. Chị T và anh S thống nhất giao cháu U và cháu V cho chị T nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị T và anh S thỏa thuận giao cho chị T nộp toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0006941 ngày 28-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; chị Vũ Thị T đã nộp đầy đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ