- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác nhận cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Văn V;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-DS | Thanh Khê, ngày 20 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Dương Thị Thái.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 154/2019/TLST-DS ngày16 tháng 4 năm 2019 về yêu cầu "Xác định cha cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 154/QĐ-TA ngày 06 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn V, sinh năm: 1981; Địa chỉ: K554/7 đường B, phường K, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị M, sinh năm: 1957; Địa chỉ: K554/7 đường B, tổ 14 phường K, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1943; Địa chỉ: Số 446 đường N, phường A, quận L1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
3. Ông Phạm Văn P, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Số 54 đường D, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
4. Ông Phạm Văn E, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số 446 đường N, phường A, quận L1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
5. Bà Phạm Thị G, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Số 88 đường Q, phường H1, quận R, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Từ năm 1976 đến năm 1981 bà Võ Thị M có quan hệ tình cảm với ông Phạm Đ1 và đến năm 1981 thì sinh ra anh Phạm Văn V. Sau đó, vì ông Đ1 đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị C nên ông Đ1 và bà M đã chấm dứt quan hệ. Do không biết chính xác các thông tin về ông Đ1 nên khi làm khai sinh cho anh V, tại phần khai về người cha bà M đã tự ghi là Phạm Văn Đ2 (tên thường gọi ở nhà của ông Đ1 là Đ2). Sau này gia đình ông Đ1 (ông Đ1, vợ là bà C và các con chung của ông Đ1 và bà C) đã nhìn nhận mối quan hệ cha con giữa ông Đ1 và anh V, đồng thời quan hệ qua lại nhưng các bên chưa làm thủ tục pháp lý công nhận cha cho con. Ông Phạm Đ1 đã chết vào 2005. Nay anh Phạm Văn V yêu cầu Tòa án công nhận ông Phạm Đ1 là cha của anh V.
Trong quá trình giải quyết, mặc dù tại phiên họp những người liên quan là bà Nguyễn Thị C, anh Phạm Văn P, anh Phạm Văn E, chị Phạm Thị G và bà Võ Thị M vắng mặt nhưng tại các bản tự khai, đơn trình bày những người liên quan đều xác định ông Phạm Văn V đúng là con ruột của ông Phạm Đ1 và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Phạm Văn V, căn cứ Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận ông Phạm Đ1 là cha ruột của anh Phạm Văn V.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê nhận định:
*Về tố tụng:
Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự của anh Phạm Văn V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị M, bà Nguyễn Thị C, anh Phạm Văn P, anh Phạm Văn E, chị Phạm Thị G vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết việc dân sự vắng mặt nên căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người này.
*Về nội dung:
Xét yêu cầu của anh Phạm Văn V về việc xác định ông Phạm Đ1 là cha của anh V thì thấy:
Từ năm 1976 đến năm 1981 bà Võ Thị M và ông Phạm Đ1 có quan hệ tình cảm và sinh ra anh Phạm Văn V. Do ông Đ1 đang tồn tại quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị C nên sau đó ông Đ1 và bà M đã chấm dứt quan hệ. Khi làm khai sinh cho anh Việt, tại phần khai về người cha, bà M đã tự ghi là Phạm Văn Đ2. Ông Phạm Đ1 đã chết vào 2005 và các bên chưa làm thủ tục pháp lý công nhận cha cho con. Nay anh Phạm Văn V yêu cầu công nhận ông Phạm Đ1 là cha của anh V.
Bà Võ Thị M, bà Nguyễn Thị C và các con chung của ông Đ1 và bà C là các anh Phạm Văn P, Phạm Văn E và chị Phạm Thị G đồng thời thừa nhận nội dung trên.
Kết quả xét nghiệm ADN giữa anh Phạm Văn P và anh Phạm Văn V do Công ty TNHH di truyền số IDNA cung cấp cũng thể hiện: "Kết quả cung cấp chỉ ra rằng các cá thể này có cùng hệ gen NST Y và có mối quan hệ huyết thông theo dòng nội với xác suất là 99,99%." .
Do vậy có đủ cơ sở để xác định ông Phạm Đ1 là cha đẻ của anh Phạm Văn V. Căn cứ vào Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn yêu cầu anh Phạm Văn V như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê là hoàn toàn phù hợp.
Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000đ anh Phạm Văn V phải chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm t khoản 2 Điều 39, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Văn V;
Tuyên bố: ông Phạm Đ1 - Sinh năm 1940 (đã chết năm 2005) - Nguyên quán: H2, L2, thành phố Đà Nẵng - Nơi thường trú cuối cùng: Tổ 19 phường H2, quận L2, thành phố Đà Nẵng là cha đẻ của anh Phạm Văn V - Sinh năm 1981.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh Phạm Văn V phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ đã nộp tại biên lai thu số 4672 ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục thi hành án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Anh Phạm Văn V có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà Võ Thị M, bà Nguyễn Thị C, anh Phạm Văn P, anh Phạm Văn E, chị Phạm Thị G có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADSQ.Thanh Khê; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) DƢƠNG THỊ THÁI |