- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Trọng T - Đỗ Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST - DS | TP T, ngày 16 tháng 12 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T
Thẩm phán giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên
[
Ngày 16 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 11/2019/TLST- DS ngày 04 tháng 7 năm 2019 về yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST – DS ngày 09 tháng 12 năm 2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Nguyễn Trọng T - Sinh năm 1967 Địa chỉ: SN 168 đường Lý Nhân Tông, phường Đ, thành phố T, tỉnh T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ Thị H - Sinh năm 1968 Nơi cư trú cuối cùng: Phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh T.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Nguyễn Trọng T và chị Đỗ Thị H kết hôn với nhau năm 1989 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã T nay là phường Đ, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 5 năm 1992 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị H đã bỏ nhà đi không để lại địa chỉ, không liên lạc với gia đình. Anh T và gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về chị H. Nay anh T yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với chị Đỗ Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp,Tòa án nhân dân thành phố T nhận định:
. Anh Nguyễn Trọng T và chị Đỗ Thị H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Tháng 5 năm 1992 chị H bỏ nhà đi, anh T và gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì.
. Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Đỗ Thị H theo quy định của pháp luật. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo nhưng vẫn không có tin tức gì về chị H. Do đó khẳng định chị H có thời gian biệt tích trên hai năm. Xét đơn yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T về yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Đỗ Thị H là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
. Về lệ phí: Anh T phải nộp 300.000đ lệ phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 27; Điều 388; Điều 389, Điều 367, Điều 369, Điều 370; Điều 371, Điều 372 BLTTDS. Điều 68 BLDS. Điều 37, Điều 1 phần I mục B danh mục Lệ phí án phí Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14.
Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Trọng T
Tuyên bố mất tích đối với chị Đỗ Thị H - Sinh năm: 1968
Nơi cư trú cuối cùng: Phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh T.
Về lệ phí: Anh Nguyễn Trọng T phải nộp 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số A A/2018/0000148 ngày 02/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T (anh T đã nộp đủ lệ phí).
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDTPT; - THADSTPT; - Người yêu cầu; -UBND Ph Đ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Thị Nguyệt |