vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đoàn Trung D ;

Tuyên bố chị Đỗ Thị T , sinh năm 1985; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn HN, xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú cuối cùng: Thôn KS, xã HN, huyện VB , thành phố Hải Phòng là người mất tích. Về lệ phí: Anh Đoàn Trung D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đoàn Trung D ;
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-DS

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN VB , THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Ly Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện VB , thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB , thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-VDS ngày 04 tháng 01 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS ngày 31 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đoàn Trung D ; nơi cư trú: Thôn HN , xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Đỗ Thị T ; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn HN , xã HN , huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú cuối cùng: Thôn KS, xã HN, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Anh Đoàn Trung D và chị Đỗ Thị T , sinh năm 1985 ở thôn KS, xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng kết hôn ngày 29-8-2011 được tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận được thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do không hợp tính nhau nên đã xảy ra xô sát, bất hòa. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị T đã bỏ về gia đình ở thôn KS, xã HN, huyện VB , thành phố Hải Phòng, sinh sống, sau đó bỏ nhà đi từ tháng tháng 6 năm 2016 đến nay không liên lạc hay thông tin về gia đình. Anh D và gia đình đã tìm kiếm chị T nhiều nơi nhưng không có kết quả. Từ khi chị T bỏ đi đến nay, anh và gia đình không biết chị T ở đâu, làm gì. Do chị T biệt tích đến nay đã gần ba năm, vì vậy anhD đề nghị Toà án nhân dân huyện VB tuyên bố chị Đỗ Thị T là người mất tích theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Đoàn Trung D và chị Đỗ Thị T có một con chung là Đoàn Phương C , sinh ngày 23-10-2012, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Anh Đoàn Trung D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết việc dân sự, quan hệ pháp luật. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 6, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Đoàn Trung D , tuyên bố chị Đỗ Thị T là người mất tích. Về con chung, tài sản chung, anhD không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về lệ phí: Anh Đoàn Trung D phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện VB , thành phố Hải Phòng nhận đinh:

- Về thủ tục tố tụng:

Chị Đỗ Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn HN, xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng, nơi cư trú cuối cùng: Thôn KS, xã HN, huyện VB , thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của anh Đoàn Trung D đề nghị Tòa án tuyên bố chị Đỗ Thị T là người mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng. Anh Đoàn Trung D có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện VB mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt anh D .

- Về yêu cầu của đương sự:

Anh Đoàn Trung D và chị Đỗ Thị T kết hôn ngày 29-8-2011 được tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã HN , huyện VB , thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính nhau. Do mâu thuẫn gia đình, nên chị Đỗ Thị T đã bỏ về gia đình ở thôn KS , xã HN , huyện VB , thành phố Hải Phòng sinh sống, sau đó bỏ nhà đi từ tháng 6 năm 2016 đến nay không về. AnhD và gia đình đã tìm kiếm chị T nhưng không biết chị T ở đâu và cũng không có tin tức gì về chị T . Chị T biệt tích từ tháng 6/2016 đến nay đã hơn hai năm. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Tuy nhiên hết thời hạn thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Đỗ Thị T còn sống hay đã chết. Vì vậy, yêu cầu của anh Đoàn Trung D đề nghị Tòa án tuyên bố chị Đỗ Thị T là người mất tích phù hợp với khoản 1 Điều 68 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 và Điều 387, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự được chấp nhận.

Về con chung: Anh Đoàn Trung D và chị Đỗ Thị T có một con chung là Đoàn Phương C , sinh ngày 23-10-2012, anhD không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết

Về tài sản: Anh Đoàn Trung D không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về lệ phí: Anh Đoàn Trung D phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387 Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Chấp nhận yêu cầu của anh Đoàn Trung D ;

Tuyên bố chị Đỗ Thị T , sinh năm 1985; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn HN, xã HN, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú cuối cùng: Thôn KS, xã HN, huyện VB , thành phố Hải Phòng là người mất tích.

- Về lệ phí: Anh Đoàn Trung D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Anh D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0001288 ngày 04-01-2019. Anh D đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Anh Đoàn Trung D và chị Đỗ Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ