vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 25/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thái Văn T về việc “Tuyên bố một người mất tích”.

Tuyên bố anh Thái Bình D; sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mất tích kể ngày 01/10/2001. Về lệ phí: Ông Thái Văn T được miễn 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự. Hoàn trả cho ông Thái Văn T 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thái Văn T về việc “Tuyên bố một người mất tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 69 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-DSNam Đàn, ngày 25 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Văn Phú.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-VDS, ngày 10 tháng 6 năm 2019 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 01/2019/QĐST - VDS, ngày 04 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Thái Văn T, sinh năm 1946; địa chỉ: Xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người được ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; địa chỉ: xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; theo giấy ủy quyền ngày 23/10/2019. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Chị Thái Thị P, sinh năm 1981; địa chỉ: xx/xx khu phố Tây B, phường ĐH, thị xã DA, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Anh Thái Văn N, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Xóm Mậu xx, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: xxx/xx đường PT, phường LB, quận xx, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 27/5/2019 và tại phiên họp, ông Thái Văn T và người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông Thái Văn T và bà Nguyễn Thị H có 03 con chung là: Thái Bình D, sinh năm 1977; Thái Thị P, sinh năm 1981; Thái Văn N, sinh năm 1987. Anh Thái Bình D, sinh năm 1977 chưa có vợ con; nơi cư trú cuối cùng là xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 09/1999 anh Thái Bình D đi khỏi địa phương và biệt tích cho đến nay không có tin tức, liên lạc gì với gia đình. Gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng như Báo công lý, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng như nhờ anh em, bạn bè để tìm kiếm nhưng hiện tại không có tin tức xác thực về việc anh Thái Bình D còn sống hay đã chết. Vì vậy, ông Thái Văn T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Thái Bình D mất tích theo quy định của pháp luật. Hiện tại, anh D không có tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Thái Bình D khi bị tuyên bố mất tích.

Tại các bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, chị Thái Thị P và anh Thái Văn N đều thống nhất khai về quan hệ hôn nhân, các con chung của ông T và bà H, thời gian anh Thái Bình D biệt tích đúng như nội dung yêu cầu của ông Thái Văn T. Bà Nguyễn Thị H, chị Thái Thị P và anh Thái Văn N đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn tuyên bố anh Thái Bình D mất tích và không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh D khi bị tuyên bố mất tích.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn phát biểu quan điểm: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Thái Văn T và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu đảm bảo thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự, đề nghị tuyên bố anh Thái Bình D mất tích. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nên không xem xét. Về lệ phí, ông Thái Văn T là người cao tuổi, là thương binh nên được miễn lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nhận định:

. Về quyền yêu cầu: Căn cứ sổ hộ khẩu gia đình số 12, ngày 13/8/1997 và xác nhận của UBND xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cũng như đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định anh Thái Bình D là con đẻ của ông Thái Văn T và bà Nguyễn Thị H. Vì vậy, ông Thái Văn T có quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố anh Thái Bình D mất tích theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Thái Văn T yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Thái Bình D có nơi cư trú cuối cùng tại xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đây là yêu cầu dân sự về việc tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xác định tư cách tham gia tố tụng: Anh Thái Bình D chưa có vợ con. Bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ anh D); chị Thái Thị P, anh Thái Văn N (em ruột của anh D) không làm đơn yêu cầu nên tham gia tố tụng với tư cách những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên họp chị Thái Thị P, anh Thái Văn N vắng mặt nhưng đã có bản tự khai và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự nên Tòa án tiếp tục tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về xét nội dung yêu cầu: Căn cứ vào đơn yêu cầu, lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết và tại phiên họp xác định: Anh Thái Bình D có nơi cư trú cuối cùng tại xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ tháng 09/1999 anh D vắng mặt tại địa phương, biệt tích từ đó cho đến nay, gia đình không có tin tức gì về anh D. Gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng như đăng tin tìm kiếm trên Báo Công lý các số 51, 52, 53 ra các ngày 27, 29 tháng 6/2018, ngày 04/7/2018 và nhắn tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào lúc 11 giờ 50 phút các ngày 26, 27, 28/6/2018 nhưng cũng không có thông tin xác thực về anh Thái Bình D.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo này đã được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba ngày liên tiếp vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 12,13,14/7/2019; được đăng tin trên Báo Nhân dân 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 03, 04, 05/7/2019; đăng tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo đầu tiên nhưng không có tin tức gì của anh Thái Bình D. Như vậy, anh Thái Bình D đã biệt tích trên 02 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Thái Bình D còn sống hay đã chết nên ông Thái Văn T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu tuyên bố anh Thái Bình D mất tích là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự.

. Về xác định ngày mất tích: Do không xác định được ngày mà chỉ xác định tháng 09/1999, là thời điểm biết được tin tức cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích nên xác định ngày mất tích của anh Thái Bình D là ngày 01/10/2001 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự.

. Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Người yêu cầu, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

. Về lệ phí: Ông Thái Văn T là người cao tuổi, là thương binh 4/4 nên được miễn tiền lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Thái Văn Tiến tuyên bố anh Thái Bình D mất tích. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 68, Điều 69 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 366, Điều 367, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thái Văn T về việc “Tuyên bố một người mất tích”.

2. Tuyên bố anh Thái Bình D; sinh năm 1977; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Mậu xx, xã KL, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mất tích kể ngày 01/10/2001.

3. Về lệ phí: Ông Thái Văn T được miễn 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự. Hoàn trả cho ông Thái Văn T 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí sơ thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0002250, ngày 07 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ