vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M mất tích.

Tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1976; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0000315 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Võ Thị Tuyết M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-DSMỏ Cày Bắc, ngày 28 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC – TỈNH BẾN TRE

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Đỉnh - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Diễm Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên họp: Ông Phan Trọng Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 221/2018/TLST-VDS ngày 13 tháng 12 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 37/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1976.

Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 20/11/2018, người yêu cầu ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông và bà Võ Thị Tuyết M kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre vào năm 2002. Sau khi kết hôn, ông và bà M sinh sống tại ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra cự cãi, vào tháng 4 năm 2016 bà M đã tự bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân cho đến nay mà không có tin tức gì. Ông đã tìm kiếm nhưng không có tin tức của bà M.

Đến tháng 4 năm 2018, ông có yêu cầu Tòa án: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với bà M và ông đã thực hiện việc đăng, phát thông báo tìm kiếm bà M trong báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng bà M vẫn không có trở về địa phương. Do đó, đến tháng 11 năm 2018 ông gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà M mất tích và cũng đã thực hiện việc đăng, phát: “Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích” đối với bà M trong các báo hàng ngày của báo “Công lý” trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp nhưng vẫn không có tin tức gì của bà M. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà M mất tích với lý do sau này ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên họp phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, các điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M mất tích từ ngày 01/5/2016.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre nhận định:

Căn cứ vào Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số 04/2018/QĐVDS-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thể hiện bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1976; đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre; từ năm 2016 bà M đã bỏ địa phương đi cho đến nay. Căn cứ vào Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 06/2019/QĐ-TA ngày 03/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, các “Phiếu thu”, “Hợp đồng thông tin số 14/TTHCM-HĐTT ngày 17/01/2019” của Đài tiếng nói Việt Nam cơ quan thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, “Hóa đơn giá trị gia tăng” của báo Công Lý, cũng như các số báo 15+16 (1658+1659) ngày 20/02/2019, 17 (1660) ngày 27/02/2019, 18 (1661) ngày 01/3/2019 của báo “Công Lý” thể hiện: bà Võ Thị Tuyết M đã vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2016 cho đến nay và ông Nguyễn Văn T đã đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Võ Thị Tuyết M trong thời hạn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà M còn sống hay đã chết. Do đó, có căn cứ xác định bà M đã mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích; Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng’’. Từ những căn cứ trên, xét thấy ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M mất tích là có cơ sở để chấp nhận.

Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu lệ phí theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M mất tích.

- Tuyên bố bà Võ Thị Tuyết M, sinh năm 1976; Nơi cư trú cuối cùng: Ấp Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bến Tre mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0000315 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ