vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Sùng Thị C đối với anh Giàng A T, Sinh năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do chị Sùng Thị C chịu toàn bộ. Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Sùng Thị C đối với anh Giàng A T, Sinh năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG CHÀ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-DSMC, ngày 14 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Thông báo tìm kiếm ngƣời vắng mặt tại nơi cƣ trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIỆN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Hưng.

Thư ký phiên họp: Ông Phìn Đại Quảng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2019 về việc “ Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2019/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Sùng Thị C, Sinh năm 1979. Địa chỉ cư trú: Bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A T, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: Bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt)

- Người phiên dịch: Chị Vàng Thị D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố số 14, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên. (có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu ngày 06 tháng 9 năm 2019, bản tự khai ngày 06 tháng 9 năm 2019 và lời khai tại phiên họp ngày 14 tháng 10 năm 2019, người yêu cầu chị Sùng Thị C trình bày:

Chị Sùng Thị C và anh Giàng A T là vợ chồng. Anh chị chung sống với nhau từ năm 1998, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn chị và anh T hai vợ chồng ra ở riêng và cùng sinh sống tại bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên. Đến cuối năm 2011, anh T bị Công an huyện MC bắt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và chấp hành án 02 năm 04 tháng tù. Sau khi chấp hành án xong trở về anh T vẫn nghiện ma túy, hay trộm cắp vặt, vẫn bán đồ đạc trong gia đình và đánh đập vợ con. Từ tháng 9 năm 2014 đến nay anh T đi khỏi nhà, gia đình không có thông tin gì của anh T, không biết anh T đi đâu, làm gì. Chị C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện MC thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Giàng A T để chị làm thủ tục xin ly hôn với anh T.

2. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định thẩm quyền, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Thẩm phán, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu được đảm bảo quyền lợi và chấp hành đúng pháp luật trong suốt quá trình giải quyết.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện MC áp dụng Điều 64 Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Sùng Thị C đối với anh Giàng A T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện MC nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Sùng Thị C yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Giàng A T; nơi cư trú cuối cùng tại bản LD, xã MTH, huyện MC. Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện MC giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung :

Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện MC có xác thực của UBND xã MTH thể hiện anh Giàng A T vẫn đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản LD, xã MTH, huyện MC. Tại thời điểm xác minh anh T vắng mặt tại nơi cư trú là tại bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên, hiện nay không biết đi đâu, làm gì, không rõ thời điểm trở về, không biết địa chỉ nơi cư trú mới của anh Giàng A T. Anh T vắng mặt tại địa phương từ ngày 29/9/2014.

Quá trình thụ lý việc dân sự Tòa án có tiến hành thủ tục niêm yết công khai các thông báo của Tòa án nhưng đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến nào của anh T đối với yêu cầu của chị Sùng Thị C. Theo quy định tại Điều 64 của Bộ luật Dân sự: “Khi một người biệt tích 06 tháng trở lên thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự…”. Như vậy, việc chị Sùng Thị C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện MC ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Chị C không có yêu cầu nên không xét.

Về lệ phí: Chị Sùng Thị C là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn lệ phí, căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm đối với chị C.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MC tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 64 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, 371, 372, Điều 381, 383, 384, 385 và 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 149 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 16 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của chị Sùng Thị C đối với anh Giàng A T, Sinh năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Bản LD, xã MTH, huyện MC, tỉnh Điện Biên.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do chị Sùng Thị C chịu toàn bộ.

Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Không xét.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Sùng Thị C được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Chị Sùng Thị C có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 14/10/2019). Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực khi anh Giàng A T trở về.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ