vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/01/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Ph về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Tuyên bố: Chị Mai Thị Hải Ng, sinh năm 1968. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm Tân Th - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đ - tỉnh Nghệ An đã mất tích. Anh Trương Văn Ph phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Ph về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định Số:01/2019/ QĐDS-ST
Ngày:29/01/2019
V/v:“ Yêu cầu tuyên bố mất tích”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI

CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Viết Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/ 2018/TLST-VDS, ngày 21 tháng 6 năm 2018, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2019/ QĐST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2019, để xét yêu cầu của:

Người yêu cầu: Anh Trương Văn Ph, sinh năm 1966. Địa chỉ: Xóm Lê Lợi, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An (Có mặt).

Nội dung yêu cầu: Anh Ph yêu cầu tuyên bố vợ của mình là Chị Mai Thị Hải Ng, sinh năm 1968 (nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm Tân Thịnh, xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An) đã mất tích.

NHẬN THẤY

Người yêu cầu, anh Trương Văn Ph trình bày: anh và chị Mai Thị Hải Ng là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/05/1987. Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Trương Văn Ng, sinh ngày 05/05/1993; Trương Thị Thanh T, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1990 và Trương Văn T sinh ngày 18 tháng 10 năm 1988. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc. Năm 2000 chị Ng bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú nêu trên đến nay. Anh Ph đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Ng. Nay anh Ph yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ng mất tích để đảm bảo quyền lợi của mình. Về con cái đã trưởng thành nên anh Ph không yêu cầu giải quyết. Về tài sản: anh Ph không có yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Ph, tuyên bố chị Mai Thị Hải Ng đã mất tích. Về con cái đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét; về tài sản: đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu, người có liên quan và đề nghị của đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn nhận định:

Về quyền yêu cầu giải quyết: anh Trương Văn Ph và chị Mai Thị Hải Ng là vợ chồng. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự, Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì anh Ph có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ng mất tích.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Mai Thị Hải Ng.

Xét yêu cầu của anh Trương Văn Ph thì thấy: Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 07/01/2019 tại địa phương, lời trình bày của anh Trương Văn Ph cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: anh Trương Văn Ph và chị Mai Thị Hải Ng là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hiếu, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/05/1987. Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là cháu Trương Văn Ng, sinh ngày 05/05/1993; Trương Thị Thanh T, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1990 và Trương Văn sinh ngày 18 tháng 10 năm 1988. Năm 2000 chị Ng bỏ đi biệt tích khỏi địa phương, từ đó nến nay không có tin tức gì. Anh Ph đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức về chị Ng.

Sau khi thụ lý, theo yêu cầu của anh Ph, Tòa án đã cho đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Ng trên báo hàng ngày của Trung ương trong 03 (ba) số liên tiếp và trên Đài phát thanh của Trung Ương 03 (ba) lần trong 03 (ba) ngày liên tiếp, nhưng sau 04 (bốn) tháng vẫn không có tin tức gì của chị Ng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự thì yêu cầu của anh Ph tuyên bố chị Ng mất tích là có căn cứ được chấp nhận.

Về con cái: đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản: đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 361, 369, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, điều 68 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn Ph về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”.

Tuyên bố: Chị Mai Thị Hải Ng, sinh năm 1968. Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Xóm Tân Th - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đ - tỉnh Nghệ An đã mất tích.

2. Anh Trương Văn Ph phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001083 ngày 21 tháng 06 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đ. Anh Trương Văn Ph đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

Phiên họp công khai sơ thẩm có mặt người yêu cầu anh Trương Văn Ph biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày 29/01/2019.

Cỡ chữ