vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Long An Tuyên án 17/01/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 99/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện C giải quyết theo thủ tục chung. Về tiền tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được Tòa án quyết định khi giải quyết lại vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Văn T “Tranh chấp quyền sử dụng đất và trả lại tiền do đất bị thu hồi” Nguyễn Ngọc A"
  • Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 99/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐ-PTLong An, ngày 17 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Trần Tấn Quốc

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Bà Trịnh Thị Phúc

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 99/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018.

Toà án nhân dân huyện C đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và trả lại tiền do đất bị thu hồi” giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1968, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1987, cư trú tại: Ấp 2/5, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đoàn Tấn A, sinh năm 1967, cư trú tại: Ấp 2/5, xã L, huyện C, tỉnh Long An;

2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1945, cư trú tại: Ấp 2, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh;

3. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1946, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An;

4. Bà Lê Thị N, sinh năm 1947, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An;

5. Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1951, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

6. Bà Lê Thị Đ2, sinh năm 1954, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

7. Bà Lê Thị T, sinh năm 1956, cư trú tại: Ấp 1, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Bà Trần Thị M, sinh năm 1926, cư trú tại: Ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An;

Tại đơn kháng cáo ngày 17/10/2018 của nguyên đơn ông Lê Văn T, tại Quyết định kháng nghị số 125/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đều yêu cầu hủy quyết định sơ thẩm với lý do sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

XÉT THẤY:

Phần đất có diện tích 455,9m2 thuộc thửa số 3 tờ bản đồ số 10 tại ấp 3, xã L, huyện C, tỉnh Long An đã được Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi, bồi thường bằng các Quyết định thu hồi số 11618/QĐ-UBND ngày 02/11/2007; Quyết định điều chỉnh quyết định thu hồi số 6322/QĐ-UBND ngày 02/10/2012; Quyết định bồi thường số 11922/QĐ-UBND ngày 02/11/2007; Quyết định điều chỉnh quyết định bồi thường số 1982/QĐ-UBND ngày 04/6/2015.

Ông T cho rằng nguồn gốc phần đất trên là của cha mẹ ông để lại cho ông sử dụng cho đến nay nhưng ông A tự ý kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện C đã thu hồi và bồi thường diện tích đất trên cho ông A nên ông T tranh chấp với ông A về quyền sử dụng thửa đất số 3. Do thửa đất bị thu hồi nên ông T tranh chấp với ông A về số tiền bồi thường thửa đất số 3.

Xét thấy, các quyết định thu hồi và bồi thường có phạm vi, đối tượng điều chỉnh đó là việc thu hồi và bồi thường của Nhà nước đối với thửa đất số 3 do ông A đứng tên. Các quyết định này không phải là quyết định giải quyết tranh chấp giữa ông T với ông A về quyền sử dụng đất, về số tiền bồi thường đối với thửa đất số 3. Do vậy, cấp sơ thẩm cho rằng sự việc tranh chấp giữa ông T với ông A đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng năm 2015 là không có căn cứ.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 99/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện C giải quyết theo thủ tục chung.

Về tiền tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được Tòa án quyết định khi giải quyết lại vụ án.

2. Ông Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Văn T số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0009337 ngày 22/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ