- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "VDS ông Phạm Văn H Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn H: Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích số quyết định tuyên bố mất tích số 02/2015/QĐVDS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố H đối với ông Phạm Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 70 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG Số: 01/2018/QĐST-VDS Ngày: 30/3/2018 V/v: “Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích” | Thành phố H, ngày 30 tháng 3 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Tố Uyên.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Nhiệm
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Đặng Ngọc Anh -Thư ký Toà án nhân dân thành phố H.
Ngày 30 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố H, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2018/TLST-VDS ngày 15/3/2018 về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 23 tháng 3 năm 2018.
Người yêu cầu: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1973.
Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Thôn Thanh L, xã Tân H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên họp.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông H yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích đối với ông.
NHẬN THẤY:
Trong đơn yêu cầu, tại bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu là ông Phạm Văn H trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn tại UBND xã Tân H, thành phố H vào ngày 20/3/1996. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại Thôn Thanh L, xã Tân H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nên ngày 13/02/2006 ông đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ đó và trong suốt thời gian ông ở nước ngoài, ông không liên lạc về gia đình. Đến ngày 28/01/2018 ông trở về Việt Nam, được biết bà Nguyễn Thị H1 là vợ của ông đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố ông là người mất tích. Để đảm bảo quyền và lợi ích của mình nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H hủy bỏ quyết định tuyên bố ông là người mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán và người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết yêu cầu của ông Phạm Văn H; căn cứ lời khai của đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định ông Phạm Văn H có đăng ký hộ khẩu và đang cư trú tại Thôn Thanh L, xã Tân H, thành phố H, tỉnh Hải Dương nên chấp nhận yêu cầu của ông H, đề nghị Toà án căn cứ Điều 27; Điều 149; khoản 2 Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 3 Điều 70 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích số 02/2015/QĐVDS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố H đối với ông Phạm Văn H; Quyết định cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H1 với ông Phạm Văn H của Tòa án nhân dân thành phố H tại bản án số 22 ngày 26/6/2015 vẫn có hiệu lực pháp luật.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định ông Phạm Văn H đã bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố là người mất tích từ năm 2015. Ngày 30/01/2018 ông đã trở về hiện nay đang cư trú Thôn Thanh L, xã Tân H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Để đảm bảo quyền và lợi ích của mình ông đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích số 02/2015/QĐVDS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố H đối với ông Phạm Văn H. Căn cứ khoản 1 Điều 70 Bộ luật dân sự xét thấy yêu cầu của ông Phạm Văn H là có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 70 Bộ luật Dân sự thì Quyết định cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H1 với ông Phạm Văn H của Tòa án nhân dân thành phố H tại bản án số 22 ngày 26/6/2015 vẫn có hiệu lực pháp luật. Do vậy cần giữ nguyên.
Về lệ phí: Ông Phạm Văn H phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 27, khoản 2 Điều 146, Điều 149, khoản 2 Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 3 Điều 70 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn H: Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích số quyết định tuyên bố mất tích số 02/2015/QĐVDS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố H đối với ông Phạm Văn H.
2. Quyết định cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H1 với ông Phạm Văn H của Tòa án nhân dân thành phố H tại bản án số 22 ngày 26/6/2015 vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Về lệ phí: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000đ lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên lai số AA/2016/0003307 ngày 15/3/2018.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong hạn 7 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Người yêu cầu; - Lưu: HS; - Lw VPTA . | Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp Trương Thị Tố Uyên |