vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Nhân H và Trần Sơn H, Tạ Thị Nga tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐST-KDTMKrông Pa, ngày 23 tháng 3 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 15 tháng 3 năm 2018 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 02/2018/TLST-KDTM, ngày 27 tháng 2 năm 2018.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

(Sau đây gọi tắt là Ngân hàng)

Trụ sở tại: số 02, đường Láng Hạ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H - Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Krông Pa.

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Ph T c, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Ông Trần Sơn H, sinh năm 1982;

Bà Tạ Thị Ng, sinh năm 1984.

Cùng địa chỉ: Buôn Phùm Ang, xã Ia Rsươm, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng công nhận hiện nay còn nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền là: 90.745.000 đồng (Chín mươi triệu bảy trăm bốn mươi lăm đồng) tính đến ngày 15/3/2018; trong đó số nợ gốc là: 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng), số tiền lãi trong hạn theo hợp đồng là 8.353.333 đồng (Tám triệu ba trăm năm mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng); số tiền lãi quá hạn theo hợp đồng là 2.391.667 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc kể từ ngày 16/3/2018 cho đến khi trả hết nợ. Ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng cam kết tự nguyện liên đới hẹn trả số tiền nợ gốc và lãi này cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam theo hình thức như sau: trả 90.745.000 đồng và số tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc kể từ ngày 16/3/2018 đến khi trả hết nợ làm một lần cho Ngân hàng vào ngày 15/4/2018.

Nếu đến thời hạn trả nợ nêu trên mà ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng không trả được nợ thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Krông Pa có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai phát mãi tài sản thế chấp là: Nhà ở cấp 4 diện tích 50 m2 , tường xây gạch, nền xi măng, mái lợp tôn, gắn liền với đất diện tích 1.037 m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BN 408660, tại buôn Phùm Ang, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, đứng tên hộ ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng, để thu hồi nợ.

Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn là ông Nguyễn Đức H đồng ý về số tiền, phương thức trả nợ đã cam kết như trên của ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng.

Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đ ng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi tương ứng với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định theo khoản 2 Điều 305 của Bộ luật dân sự 2005.

Về án phí: Áp dụng khoản 3 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm của vụ án là: 90.745.000 đồng đồng x 5% 4.537.250 đồng, hòa giải thành các đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm là 4.537.250 đồng x 50% 2.268.625 đồng. Ông Trần Sơn H và bà Tạ Thị Ng tự nguyện liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 2.268.625 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng). Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thông qua Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Krông Pa (người đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Đức H) số tiền đã tạm nộp trước đây là 2.187.250 đồng (Hai triệu một trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0005977 ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục ph c thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ