vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐDS-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐDS-ST
Ngày: 11/9/2018
“V/v Yêu cầu công
nhận cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH - TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Lương Sỹ Nam - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp:

Ông Bùi Trường Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2018/TLST-VDS ngày 14 tháng 8 năm 2018 về yêu cầu “Công nhận cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2018/QĐPH-ST ngày 28 tháng 8 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Chị Đinh Thị O, sinh ngày: 10/10/1962 (có mặt)

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày: 01/01/1999 (vắng mặt)

Nghề nghiệp: Sinh viên

Trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh công nhận anh Nguyễn Mạnh H (đã mất) là bố đẻ của cháu Nguyễn Văn L.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Việc chị O làm đơn yêu cầu công nhận cha cho con là thuộc quyền của công dân được pháp luật quy định, chị O đã cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến yêu cầu của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn yêu cầu của chị O có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 362 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi người yêu cầu cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự “Yêu cầu công nhận cha cho con” của chị Đinh Thị O đề ngày 13/8/2018, thì nội dung được tóm tắt như sau: Năm 1998 tôi (tức chị O) chung sống với anh Nguyễn Mạnh H, tại xóm A xã T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh), quá trình chung sống giữa chị O và anh H đã sinh được một người con tên là Nguyễn Văn L, trong khoảng thời gian chị O và anh H sinh sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, do anh H hay rượu chè, đánh đập chị O nên chị O đưa cháu L về bên ngoại sinh sống, vì vậy việc đăng ký kết hôn chưa thực hiện, khi đi khai sinh cho cháu L không khai tên bố trong khai sinh, chính vì thế giấy khai sinh của cháu hiện tại không có tên bố. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu chị O yêu cầu Tòa án công nhận anh Nguyễn Mạnh H là bố của cháu Nguyễn Văn L theo quy định của pháp luật.

Qua đơn trình bày của chị O Tòa án thấy rằng: Việc chị Đinh Thị O và anh Nguyễn Mạnh H chung sống với nhau là hoàn toàn có thật, quá trình chị O và anh H sinh sống với nhau chưa đăng ký kết hôn và có một con chung tên là Nguyễn Văn L là sự thực khách quan, điều đó được chứng minh bởi các lý do sau: Ngày 31/3/2018 bà Nguyễn Thị L (thường gọi là bà C), trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của anh Nguyễn Mạnh H thừa nhận rằng con tôi là Nguyễn Mạnh H chung sống với chị Đinh Thị O, không đăng ký kết hôn, lý do vì sao không đăng ký kết hôn là do con trai tôi hay rượu chè, gia đình khuyên bảo nhiều nhưng không thay đổi, nên chị O phải về bên ngoại sinh sống, quá trình hai người sinh sống có với nhau một con chung là cháu Nguyễn Văn L, cam đoan tất cả những nội dung trên là hoàn toàn sự thật, có gì sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bên cạnh đó chị Nguyễn Thị V (là chị gái của anh Nguyễn Mạnh H), sinh năm 1959, trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Chị Nguyễn Thị V (là chị gái của anh Nguyễn Mạnh H), sinh năm 1962, trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; anh Nguyễn Tấn D (là em trai của anh Nguyễn Mạnh H), sinh năm 1968, trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, đều khẳng định như nội dung của bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của anh Nguyễn Mạnh H) đã trình bày.

Cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày: 01/01/1999, trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, thừa nhận rằng: Từ khi sinh ra cho đến giờ cháu sinh sống với mẹ (chị O), khi sinh ra mẹ đi khai sinh đã không có tên cha đẻ của cháu trong giấy khai sinh, hiện tại cháu L thừa nhận anh Nguyễn Mạnh H là cha đẻ và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh cho cháu được nhận anh Nguyễn Mạnh H là cha đẻ của mình.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp đề nghị áp dụng: Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận nội dung đơn của chị Đinh Thị O yêu cầu Tòa án công nhận anh Nguyễn Mạnh H là cha đẻ của cháu Nguyễn Văn L.

Về lệ phí Tòa án, đề nghị áp dụng: Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ lệ phí Tòa án cho chị Đinh Thị O, do chị O thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn yêu cầu xin miễn Lệ phí Tòa án.

Qua sự phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, mẹ đẻ, chị gái ruột, em trai ruột của anh Nguyễn Mạnh H và đơn xin nhận cha đẻ của cháu Nguyễn Văn L, Tòa án thấy rằng đơn yêu cầu công nhận cha cho con của chị Đinh Thị O là có căn cứ pháp luật nên Tòa án chấp nhận anh Nguyễn Mạnh H là cha đẻ của cháu Nguyễn Văn L như đơn yêu cầu của chị Đinh Thị O.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Đinh Thị O và tuyên bố: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1966, trú tại xóm A, xã T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đã mất) là cha đẻ của cháu Nguyễn Văn L, sinh ngày: 01/01/1999. Trú tại: Tổ dân phố T, phường T, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Đinh Thị O được miễn tiền lệ phí Tòa án khi giải quyết việc dân sự, do chị O thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn lệ phí Tòa án.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Cỡ chữ