- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? 2 Điều 39, Điều 367, Điều, 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định; Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐDS-ST Ngày: 30/01/2018 Về việc:“Yêu cầu tuyên bố |
một người mất tích”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Mạc Thị Hồng - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký tòa án, Tòa án nhân
dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tham gia phiên họp:
Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2017/TLST-VDS ngày 18 tháng 7 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2018/QĐPH-ST ngày 12 tháng 01 năm 2018, đối với:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị B, sinh năm 1945
HKTT: xóm L, xã N, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tại đơn yêu cầu và biên bản lấy lời khai, bà Lê Thị B yêu cầu Tòa án tuyên
bố mất tích đối với anh Lê Xuân T, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm L, xã N, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên (nay là thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) với lý do: Từ ngày 14/9/1991 anh T nói với gia đình là đi lên Lạng Sơn làm ăn, nhưng từ khi anh đi gia đình không có được bất kỳ thông tin gì về anh, gia đình cũng đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không tìm thấy anh T ở đâu. Khi anh T đi mới 20 tuổi, nhưng do thời gian đã lâu, anh T cũng không có tin tức gì, bà làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh T mất tích theo quy định pháp luật.
Tại phiên họp đại diện VKS phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ việc dân sự, lời trình bày của người có yêu cầu thấy rằng yêu cầu của bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Lê Xuân T là có căn cứ.
Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên căn cứ các điều 369, 370 Bộ luật
tố tụng Dân sự, Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị B về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Xuân T mất tích.
Về lệ phí: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội: Người yêu cầu bà Lê Thị B phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên nhận định:
. Về thẩm quyền của Tòa án: Đây là việc dân sự về yêu cầu Tòa án
tuyên bố một người mất tích của bà Lê Thị B đối với anh Lê Xuân T, sinh năm 1971, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm L, xã N, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên (nay là thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
. Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến
hành xác minh, thu thập chứng cứ và ra Thông báo tìm kiếm anh Lê Xuân T đăng trên báo Công lý, Đài Tiếng nói Việt Nam, trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao. Kể từ khi đăng phát thông báo lần đầu tiên đến nay đã hết thời hạn 4 tháng, xét thấy đủ điều kiện Tòa án đã ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 366 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp có mặt người yêu cầu tuyên bố mất tích.
. Xét yêu cầu của đương sự thì thấy:
Anh Lê Xuân T, sinh năm 1971, là con trai bà Lê Thị B và ông Lê Xuân L
(ông L mất năm 1990). Trước khi anh T mất tích chưa có vợ con và vẫn chung sống cùng mẹ và các em tại xóm L, xã N, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.
Theo lời trình bày của bà B, ngày 14/9/1991 anh T xin phép gia đình đi làm
ăn, khi đi nói đi lên Lạng Sơn. Gia đình không biết anh đi cùng ai, nhưng từ khi đi anh không có thông tin gì về cho gia đình và gia đình cũng không nhận được thông tin gì của anh. Thời gian lâu sau do không thấy tin tức gì của anh gia đình cũng đã đi tìm kiếm nhưng không thấy cho đến nay.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh T là xóm L,
xã N, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên, xác định: Anh Lê Xuân T vắng mặt tại địa phương từ khoảng năm 1991 cho đến nay, kể từ thời điểm anh T vắng mặt tại địa phương, địa phương không có bất kỳ thông tin gì của anh.
Từ những căn cứ trên xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Xuân T
trước khi mất tích là xóm L , xã N, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Về thời gian vắng mặt của anh Lê Xuân T tại địa phương: Được xác định
là tháng 09/1991.
Quá trình giải quyết bà Lê Thị B có đơn đề nghị được nhắn tin tìm kiếm
anh Lê Xuân T trên các phương tiện thông tin đại chúng
Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên đã ra quyết định số 03/2017QĐST-VDS
ngày 8/8/2017, về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Lê Xuân T, và có Công văn số 03/CV-TA ngày 8/8/2017 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích gửi Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Công lý, Trung tâm thông tin tỉnh Thái Nguyên đề nghị đăng Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Lê Xuân T trong 03 số liên tiếp. Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) đã phát hồi 11 giờ 50 phút các ngày 12, 13, 14 tháng 9 năm 2017 và đăng trên báo Công lý vào các số 77,78,79 các ngày 27, 29/9 và ngày 04/10/2017, chuyển đăng trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử của TAND tối cao. Riêng đối với việc đăng tải trên Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Thái Nguyên chưa thực hiện được do UBND tỉnh Thái Nguyên chưa triển khai.
Việc đăng tin nêu trên đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 384, 385
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đến nay thời hạn công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng đã hết (04 tháng), mà vẫn không có tin tức gì xác thực việc anh Lê Xuân T còn sống hay đã chết.
Xét thấy, anh Lê Xuân T đã đi khỏi địa phương từ tháng 9/1991 đến nay là
đã hơn 27 năm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó”. Đối chiếu với quy định của pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự, cần chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị B về việc yêu cầu tuyên bố anh Lê Xuân T mất tích.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ, nên cần
được chấp nhận.
. Về chi phí nhắn tin: bà B đã nộp đủ thể hiện trên biên lai thu hóa đơn
giá trị gia tăng, số tiền 2.850.000 đồng.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: bà Lê Thị B phải chịu lệ phí giải
quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: - Điều 21, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản
2 Điều 39, Điều 367, Điều, 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị B: Tuyên bố anh Lê Xuân T sinh
năm 1971. Nơi cư trú cuối cùng: xóm L, xã N, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên (nay là thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) mất tích.
2. Về chi phí nhắn tin: Tổng số tiền 2.850.000đ chi phí nhắn tin, bà Lê Thị
B đã nộp đủ.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: bà Lê Thị B phải chịu lệ phí 300.000đ
được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phổ Yên, biên lai thu số 0009706 ngày 18/3/2017.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu (bà B) có quyền kháng
cáo, VKSND thị xã Phổ Yên có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, VKS nhân dân cấp trên là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận : - Các đương sự; - VKSND thị xãPhổ Yên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã N; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Mạc Thị Hồng |