- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐDS-ST Ngày 18 - 01 - 2018 V/v yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Duy Thạch – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Tình – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Thơ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A, Toà án nhân dân huyện A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 51/2017/TLST- VDS ngày 20 tháng 12 năm 2017 về yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 01/2018/QĐST-VDS ngày 04 tháng 01 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Minh H, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ dân phố số 4, khu P 1, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên họp.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Trong đơn yêu cầu, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là ông Trần Minh H trình bày: Ông Trần Minh H và bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1969 (địa chỉ: Khu P, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng) kết hôn với nhau do tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A1, thành phố Hải Phòng (nay là phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng) từ năm 1989. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn P, xã Đ, huyện A1, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố 4, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng). Đến năm 1990, ông Trần Minh H đi lao động, làm việc tại Cộng hòa Liên bang Xô Viết (nay là Cộng hòa Liên bang Nga). Do có những biến động chính trị tại nơi làm việc nên từ năm 1990 đến năm 2002, ông Trần Minh H đã không liên hệ được với gia đình, người thân ở Việt Nam vì vậy gia đình, người thân, chính quyền địa phương không ai có được tin tức gì xác thực ông Trần Minh H còn sống hay đã chết. Đến năm 2001, bà Nguyễn Thị H đã có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Minh H mất tích và giải quyết cho bà Hiền được ly hôn với ông Trần Minh H. Tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A) đã tuyên bố ông Trần Minh H mất tích và giải quyết cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Minh H.
Đến tháng 5 năm 2017, ông Trần Minh H đã trở về và cư trú tại tổ dân phố số 4, khu P 1, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng.
Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông Trần Minh H đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố ông là người mất tích tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc giải quyết yêu cầu của người yêu cầu: Ông Trần Minh H là người bị Tòa án tuyên bố mất tích tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 đã trở về nên đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 70 Bộ luật Dân sự hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với ông Trần Minh H.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ việc: Tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A) đã tuyên bố ông Trần Minh H mất tích nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện A.
- Xét yêu cầu của người yêu cầu: Tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A) đã tuyên bố ông Trần Minh H mất tích và giải quyết cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Minh H. Đến tháng 5 năm 2017, người bị tuyên bố mất tích đã trở về và cư trú tại tổ dân phố số 4, khu P 1, phường Đ 1, quận H, thành phố Hải Phòng nên căn cứ Điều 390 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 70 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh H, hủy bỏ quyết định tuyên bố ông Trần Minh H là người mất tích tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A).
Các quyết định khác của Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A) vẫn có hiệu lực pháp luật.
- Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm c khoản 2 Điều 39; các điều 143, 149, 370, 372 và 390 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 70 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ các điều 6, 7, 9, 36 và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Minh H.
Hủy bỏ quyết định tuyên bố ông Trần Minh H là người mất tích tại Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A).
Các quyết định khác của Bản án số 21/LHST ngày 05 tháng 8 năm 2002 của Tòa án nhân dân huyện A1 (nay là A) vẫn có hiệu lực pháp luật.
Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Trần Minh H phải nộp 300.000đ tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Ông Trần Minh H đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0007441 ngày 20 tháng 12 năm 2017) nên không phải nộp nữa.
Người yêu cầu có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hải Phòng; - VKSND huyện A; - Chi cục Thi hành án dân sự A; - UBND phường Đ 1; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | Bùi Duy Thạch |