- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấ p nhậ n yêu cầ u tuyên bố mộ t ngườ i mấ t tí ch của bà Trần Thị P đối với ông Trần Văn Đ:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Số: 01 /2018/QĐDS-ST Ngày 28 - 8 - 2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên họp: ông Nguyễn Thế Dương – Thẩm phán.
- Thư ký phiên họp: ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đăk Lắk tham gia phiên họp: ông Y Gon Niê – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 23/2018/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 95/2018/QĐPH-ST ngày 20 tháng 8 năm 2018, giữa.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Trần Thị P sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn 02, xã E, huyện M, tỉnh Đ. Có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn Đ sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT: xóm 10, xã Â, huyện K, tỉnh N. Nơi cư trú cuối cùng: thôn 02, xã E, huyện M, tỉnh Đ. Vắng mặt.
* Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Bà Trần Thị P và ông Trầ n Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2010 tại thôn 02, xã EaH'MLay, huyện M'Đrắk, tỉnh Đăk Lăk, có 01 con chung là Trần Tuấn Đ1 sinh ngày 26/8/2011. Ngày 24/10/2011 bà P và ông Đ đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã E . Từ tháng 01 năm 2016, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Đ bỏ đi đến nay không có tin tức gì. Bà P đã tìm kiếm và liên lạc với người thân và nơi đăng ký hộ khẩu của ông Đ tại xóm 10, xã Â, huyện K, tỉnh N nhưng không có tin tức gì về ông Đ đang cư trú ở đâu, còn sống hay đã chết.
Bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Đ mất tích để làm thủ tục ly hôn với ông Đ.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện M'Đrăk đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu của đương sự theo quy định tại các Điều 48, 96, 97, 177, 366 và Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu của bà Trần Thị P là có cơ sở. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện M'Đrăk chấp nhận yêu cầu của bà P.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk nhận định:
Về quan hệ pháp luật: bà Trần Thị P yêu cầu tuyên bố, chồng bà là ông Trần Văn Đ mất tích. Ông Đ có nơi cư trú cuối cùng tại thôn 02, xã E, huyện M, tỉnh Đ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu của bà P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk.
Về nội dung vụ việc: bà Trần Thị P và ông Trần Văn Đ tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký tại ủy ban nhân dân xã E , huyện M, tỉnh Đ vào ngày 24/10/2011. Sau khi kế t hôn, bà P và ông Đ chung số ng với nhau tại thôn 02, xã E. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Đ bỏ đi, biệt tích từ tháng 1 năm 2016 đến nay. Bà P đã tìm kiếm và liên lạc về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông Đ tại xóm 10, xã Â, huyện K, tỉnh N nhưng không có tin tức xác thực ông Đ.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà P, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm ông Trần Văn Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đài Tiếng nói Việt Nam phát tin nhắn “Tìm kiếm ông Đ vào các ngày 19, 20 và 21 tháng 4 năm 2018”, Báo Công lý thông báo “Tìm kiếm ông Đ trên các số báo ngày 20, 25 và 27 tháng 4 năm 2018”. Thông báo tìm kiếm, nay đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đầu tiên phát tin và đăng báo, cũng không có tin tức gì của ông Đ. Xét thấy ông Trần Văn Đ đã biệt tích từ tháng 01 năm 2016 đến nay, không có tin tức xác định ông Đ còn sống hay đã chết. Việc bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Đ mất tích là phù hợp với Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.
Về lệ phí: Bà Trần Thị P thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn yêu cầu miễn lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho bà P.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 150, 370, 371, 372, 384, 385, 388 , 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân; điể m đ khoả n 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Chấ p nhậ n yêu cầ u tuyên bố mộ t ngườ i mấ t tí ch của bà Trần Thị P đối với ông Trần Văn Đ:
Tuyên bố ông Trầ n Văn Đ sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT: xóm 10, xã Â, huyện K, tỉnh N. Nơi cư trú cuối cùng: thôn 02, xã E, huyện M, tỉnh Đ mấ t tí ch.
2. Về lệ phí: bà Trần Thị P đượ c miễ n toà n bộ lệ phí sơ thẩ m về giải quyết việ c dân sự .
3. Thông báo quyền kháng cáo.
Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Đương sự không có mặt tại phiên họp thì thời khá ng cá o tính từ ngày nhận được quyết định giả i quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND huyện M’Đrắk; -Chi cục T.H.A dân sự huyện M’Đrắk; -Các đương sự; -UBND xã Ân Hòa, xã EaM’Lay. -Lưu hồ sơ vụ việ c. | (Đã ký) Nguyễn Thế Dương |