- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Bích H: Tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A, sinh ngày 31/10/1969, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐDS-ST Ngày 23/3/2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Văn Ngoan- Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Trương Công Bình- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Hoài Trinh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 3 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01 /2017/TLST- VDS ngày 12 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2018/QĐPH-ST ngày 12 tháng 3 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị Bích H- Sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Huỳnh Ngọc A- Sinh ngày 31/10/1969;
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Năm 2014, chị H kết hôn với anh Huỳnh Ngọc A, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Quá trình chung sống, vợ chồng chị H liên tục xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 02 năm 2015 anh A bỏ nhà, bỏ địa phương đi từ đó đến nay không về lại địa phương, chị H đã tìm kiếm anh A nhiều nơi và cũng đã có đơn yêu cầu Tòa án Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh A, Tòa án đã thụ lý việc dân sự ngày 27/10/2015 và đã ra quyết định giải quyết việc dân sự, thông báo tìm kiếm anh A trên Đài tiếng nói Việt Nam và Báo Công lý, nhưng vẫn không có tin tức gì của anh A.
Nay chị H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích. Để chị có cơ sở pháp lý cho việc khởi kiện xin ly hôn sau này đối với anh A. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
4. Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu đã chấp hành đúng quy định pháp luật, kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán tiến hành phiên họp.
Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, các chứng cứ, tài liệu do người yêu cầu nộp và Tòa án đi thẩm tra xác minh, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, xét chấp nhận yêu cầu tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích của chị H. Chị H không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nên đề nghị không xem xét. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn của chị Phạm Thị Bích H yêu cầu tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 38, quyển số: 01/2014 ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì xác định chị H và anh A có quan hệ vợ chồng. Do đó, chị H có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh A mất tích. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thì nơi cư trú cuối cùng của anh A là tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, đại diện gia đình và chính quyền địa phương xác nhận hiện nay vẫn không có tin tức gì của anh A. Ngày 30/10/2017 Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, chị H đã thông qua Báo công lý và Đài tiếng nói Việt Nam đăng tải và phát tin tìm kiếm anh A (trong hạn 04 tháng). Tuy nhiên kể từ đó đến nay, đã quá thời hạn thông báo nhưng tin tức về anh A vẫn bặt âm vô tín. Xét thấy, thời gian biệt tích trên 02 năm của anh A tại địa phương là thực tế, chị H và anh A có nơi cư trú cụ thể, cũng như nơi cư trú cuối cùng của người biệt tích đã được xác định; lý do việc dân sự mà chị H yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật và thực tế. Do đó, xét yêu cầu của chị H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích là có cơ sở nên được chấp nhận, là phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tố tụng và tại phiên họp, chị H chỉ yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích, chị H không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích, nên không xét.
Ý kiến của kiểm sát viên về tố tụng và nội dung việc dân sự là phù hợp nên được Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị H phải chịu 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Tuyên bố:
1.Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Bích H: Tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A, sinh ngày 31/10/1969, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Phạm Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 06388 ngày 12 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tơ.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Ba Tơ; - Chi Cục THADS huyện Ba Tơ; - Niêm yết; - Đương sự; - UBND thị trấn Ba Tơ; - Lưu. | THẨM PHÁN (Đã ký) Ngô văn Ngoan |