vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐ-TA — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị H tuyên bố mất tích đối với anh Trần Bá S, sinh năm sinh năm 1978

Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Về lệ phí: Chị Lê Thị H phải nộp 200.000đ lệ phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại chi cục THASD huyện Nông Cống theo biên lai thu số AA/2010/006613 ngày 03/5/2013, chấp nhận chị H đã nộpđủ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị H tuyên bố mất tích đối với anh Trần Bá S, sinh năm sinh năm 1978
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐ-TAN, ngày 05 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huệ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên

Thư ký phiên họp: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Cống.

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống tiến hành mở phiên họp xét việc dân sự thụ lý số 01/VDSST ngày 06/5/2013 về việc: Yêu cầu tuyên bố mất tích theo quyết định mở phiên họp số 04/2017/QĐ-TA ngày 29 tháng 12 năm 2017

Người yêu cầu: Chị Lê Thị H, sinh năm 1979;

Cư trú: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Người bị yêu cầu: Anh Trần Bá S, sinh năm 1978

Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên họp chị H yêu cầu tuyên bố anh Trần Bá S mất tích

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm đề nghị Tòa án tuyên bố anh Trần Bá S mất tích.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, sau khi nghe các đương sự trình bày, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến;

XÉT THẤY:

Chị Lê Thị H và anh Trần Bá S kết hôn tháng 7/2000 trên cơ sở tự nguyện, sau khi cưới vợ chồng chung sông hòa thuận hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên anh S phải đi làm ăn, chị H ở nhà nuôi con, thi thoảng anh S có về thăm mẹ con chị ít ngày rồi lại đi. Mỗi lần về vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Lần cuối anh S về thăm mẹ con chị vào năm 2009 sau đó đi cho đến nay không có tin tức gì. Mặc dù chị H cũng như gia đình đã cố gắng tìm kiếm nhưng không thấy, đồng thời đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về anh S. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh S mất tích. Tòa án đã Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối vối anh Trần Bá S trên 2 phương tiện thông tin đại chúng là Đài tiếng nói Việt Nam và Báo Công lý theo quy định của pháp luật. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức gì về anh S. Xét về thời gian anh S đã biệt tích trên 2 năm tính từ khi bỏ đi khỏi nơi cư trú đến nay, hiện tại không ai biết anh S ở đâu còn sống hay đã chết.

Xét đơn của chị H về yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh S là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 200.000đ tiền lệ phí DSST

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 68 BLDS; khoản 3 Điều 27, Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5; khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lê Thị H tuyên bố mất tích đối với anh Trần Bá S, sinh năm sinh năm 1978

Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Về lệ phí: Chị Lê Thị H phải nộp 200.000đ lệ phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại chi cục THASD huyện Nông Cống theo biên lai thu số AA/2010/006613 ngày 03/5/2013, chấp nhận chị H đã nộpđủ.

3. Chị H có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, anh S có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc niêm yết quyết định.

Cỡ chữ