vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐ-TA

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 02/01/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

Chấp nhận một phần khiếu nại của Nguyễn Q1. Sửa một phần Quyết định số 156/QĐ-TA ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố X: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1, sinh ngày 07/3/1978; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 16/4, Khóm T, phường M, thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Đồng Q khiếu nại XLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 33 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét; Điều 35 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐ-TAAn Giang, ngày 02 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Tòa án áp dụng biện

pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh

2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Lan

Ngày 02 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, tiến hành phiên họp giải quyết khiếu nại đối với Quyết định của Tòa án áp dụng biện pháp “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc”.

Theo Quyết định mở phiên họp số: 06/2017/QĐ-TA ngày 25 tháng 12 năm 2017, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Q1. Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 07/3/1978.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Thiên chúa.

Trình độ học vấn: 9/12.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 16/4, Khóm T, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khóm A, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Ngày 29/11/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành quyết định số 119/QĐ-UB(NC) đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1 với thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 31/7/2015.

- Ngày 10/10/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố X, tỉnh An Giang ban hành quyết định số 200A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Q1 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” với thời hạn 03 tháng. Đã chấp hành xong.

Con ông: Nguyễn H, sinh năm 1953 và bà: Phan Thị K, sinh năm 1960.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn P – Phó đội trưởng Đội cảnh sát hình sự - Công an thành phố X, tỉnh An Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Lương Thúy Hạnh – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Công an thành phố X, tỉnh An Giang đề nghị Tòa án nhân dân thành phố X áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giao dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1, sinh năm 1978; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 16/4, khóm T, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang. Hiện nay cư trú tại tổ 2, khóm A, phường B, thành phố X. Nơi giáo dục bắt buộc là Cơ sở giáo dục bắt buộc Cồn Cát thuộc xã An Thạnh 1,huyện Cù Lao Giêng, tỉnh Sóc Trăng với thời hạn đến 24 tháng. Lý do: Ngày 10/10/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố X, tỉnh An Giang ban hành quyết định số 200A/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Q1 về hành vi “Gây rối trật tự công cộng thời hạn 03 tháng từ ngày 10/10/2016 đến ngày 10/01/1017. Sau khi chấp hành xong quyết định này, Công an phường B, thành phố X tiếp tục phát hiện và lập biên bản đối với Nguyễn Q1 có hành vi gây rối trật tự nơi công cộng vào các ngày 06/4/2017, 03/5/2017 và 26/5/2017.

Tại Quyết định số: 156/QĐ-TA ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang quyết định:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1, sinh ngày 07/3/1978; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 16/4, Khóm T, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khóm A, xã B, thành phố X, tỉnh An Giang.

Nơi chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc: Tại Cơ sở giáo dục bắt buộc Cồn Cát thuộc xã An Thạnh 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc của Nguyễn Q1 là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở giáo dục.

Ngoài ra Quyết định còn nêu quyền khiếu nại của người bị đề nghị, quyền kiến nghị của cơ quan đề nghị, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát.

Ngày 07/11/2017, Nguyễn Q1 có đơn khiếu nại và yêu cầu được trưng cầu giám định tâm thần.

Tại phiên họp hôm nay, vắng mặt Nguyễn Q1. Tuy nhiên Nguyễn Q1 không gửi ý kiến giải trình lý do vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Đồng ý theo Quyết định của Tòa án nhân dân thành phố X.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/11/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án (Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13); đề nghị sửa Quyết định số: 156/QĐ-TA ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố X theo hướng giảm thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, ý kiến của cơ quan đề nghị, nhận thấy:

- Về thủ tục khiếu nại: Nguyễn Q1 khiếu nại trong thời hạn được quy định tại khoản 1, Điều 31 Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 là hợp lệ, nên được xem xét giải quyết khiếu nại.

Tại phiên họp Nguyễn Q1 vắng mặt không báo lý do. Căn cứ khoản 4 Điều 33 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, Tòa án vẫn mở phiên họp.

- Về nội dung khiếu nại: Nguyễn Q1 có đơn khiếu nại yêu cầu được trưng cầu giám định tâm thần và đề nghị xem xét lại quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Tuy nhiên, Q1 không cung cấp các chứng cứ điều trị tâm thần, đồng thời trong một thời gian dài Q1 đã liên tục vi phạm trong tình trạng say rượu và đều nhận biết được việc làm của bản thân là sai phạm pháp luật; Ngoài ra người thân của Nguyễn Q1 đều xác định Q1 thường xuyên uống rượu rồi làm mất an ninh trật tự tại địa bàn mặc dù đã nhiều lần được gia đình nhắc nhở và bị chính quyền địa phương xử lý hành chính. Điều này thể hiện yêu cầu của Q1 đề nghị giám định tâm thần là cớ để trốn tránh trách nhiệm.

Nguyễn Q1 là công dân khỏe mạnh, nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật. Lẽ ra sau nhiều lần bị công an phường phạt tiền về hành vi có hành vi uống rượu say gây rối trật tự công cộng thì phải biết sửa đổi, siêng năng lao động chân chính, hạn chế rượu chè để trở thành người tốt, thế nhưng Q1 thì ngược lại chỉ vì xem thường pháp luật nên trong một thời gian rất ngắn (chưa tròn 06 tháng) đã nhiều lần vi phạm mặc dù bị xử phạt hành chính và bị UBND phường B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng Q1 lại tiếp tục nhiều lần gây rối trật tự công cộng. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố X áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1 là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Ngoài ra năm 2013 về nhân thân Q1 bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đến tháng 07/2015 chấp hành xong, nay lại tiếp tục vi phạm là tình tiết tăng nặng. Nên mức thời gian mà Tòa án nhân dân thành phố X buộc chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc của Nguyễn Q1 là 24 (hai mươi bốn) tháng là cần thiết để tạo điều kiện cho Nguyễn Q1 trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Tuy nhiên cũng cần xem xét, trong các lần phạm tội Q1 đều thành khẩn nhìn nhận sai phạm, Q1 có con còn nhỏ trong lứa tuổi học sinh. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ mà Q1 được hưởng nhưng Tòa án nhân dân thành phố X chưa xem xét. Do đó cần phải xem xét để giảm bớt một phần thời gian buộc chấp hành tại cơ sở giáo dục là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

Chấp nhận một phần khiếu nại của Nguyễn Q1. Sửa một phần Quyết định số 156/QĐ-TA ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố X:

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với Nguyễn Q1, sinh ngày 07/3/1978; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 16/4, Khóm T, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khóm A, xã B, thành phố X, tỉnh An Giang.

Nơi chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc: Tại Cơ sở giáo dục bắt buộc Cồn Cát thuộc xã An Thạnh 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc của Nguyễn Q1 là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở giáo dục.

Quyết định này là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành ngay.

Cỡ chữ