vanban.org

Quyết định 01/2017/QĐDS-ST — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 19/07/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị M về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Về lệ phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004351 ngày 29/5/2017 của Chi cục Thi hành dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng; bà M đã nộp xong tiền lệ phí s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị M về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2017/QĐDS-ST
Ngày 19/7/2017
V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thanh Nhanh – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kim Yến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp:

Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 67/2017/TLST-VDS ngày 02 tháng 6 năm 2017 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2017/QĐST-VDS ngày 05 tháng 7 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Phạm Thị M, (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Phạm Thị M với ông Nguyễn Văn T cưới nhau khoảng năm 1980. Ông, bà đều cư trú tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Bà M không biết lý do gì mà ông T bỏ nhà ra đi từ ngày 02/3/1990 cho đến nay, không liên lạc được và không biết ông T cư trú ở đâu. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T, hiện nay đang ở đâu về địa phương ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để giải quyết đất đai với bà M.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Bà M cho rằng khi nhà nước có đợt đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Giấy CNQSD đất), chính quyền địa phương tự kê khai và làm thủ tục, nên Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng đã cấp Giấy CNQSD đất cho ông T vào ngày 09/7/1993, thửa số 67, 214, 217, tờ bản đồ số 02, tọa lạc ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Bà M muốn ông T về sang tên lại cho bà để bà phân chia đất cho các con, nhưng bà M không biết tin tức gì về ông T. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T, hiện nay đang ở đâu về địa phương ấp B, xã H, huyện T để giải quyết đất đai với bà M. Đồng thời bà M cũng gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình gồm Giấy khai sinh của con bà M với ông T tên Nguyễn Văn R, sinh năm 1982; Nguyễn Thị A, sinh năm 1983; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; Nguyễn Thị K và Nguyễn Thị O cùng sinh năm 1989 đều thể hiện tên cha là Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và tên mẹ là Phạm Thị M; “Đơn yêu cầu xác nhận” đề ngày 25/5/2017 của bà M, theo đó thì Công an xã H, huyện T xác nhận là ông T, đăng ký thường trú ấp B, xã H, hiện không có mặt tại địa phương.

Tuy ông T với bà M không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nhưng trong giấy khai sinh của các con ông T và bà M đều thể hiện tên cha là Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và tên mẹ là Phạm Thị M, nên theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì bà M có quyền, lợi ích liên quan trong việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm ông T vắng mặt nơi cư trú, vì quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987.

Căn cứ vào văn bản của Công an xã H trả lời công văn số: 67/CV-TA ngày 18/7/2017 của Tòa án, có nội dung xác nhận ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, đăng ký thường trú ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, đến năm 1990 cho đến nay ông T đã bỏ địa phương đi, Công an xã không còn quản lý; Ngày 19/7/2017 Ủy ban nhân dân xã H, huyện T xác nhận là ông T đăng ký thường trú ấp B, xã H, huyện T đã biệt tích cách đây trên 24 tháng. Trong đơn yêu cầu của bà M, thì ông T sinh năm 1962; giấy khai sinh của các con bà M, ông T thì ghi nhận ông T sinh năm 1964, nhưng theo Công an xã H, huyện T xác nhận thì ông T sinh năm 1965, do bà M không cung cấp được Giấy chứng minh nhân dân của ông T, nên căn cứ vào xác nhận của Công an xã H là ông T sinh năm 1965 làm cơ sở.

Theo Điều 64 Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, ông T đã biệt tích từ năm 1990 đến nay (tức là biệt tích từ 06 tháng liền trở lên), căn cứ vào quy định này thì bà M yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà M là đúng pháp luật.

Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 370, Điều 383 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 64 Bộ luật dân sự; Điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị M về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú cuối cùng: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

2. Về lệ phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004351 ngày 29/5/2017 của Chi cục Thi hành dân sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng; bà M đã nộp xong tiền lệ phí sơ thẩm.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ