- Tranh chấp gì? "1.Nguyễn Thị G, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số nhà 02/11, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Thị G, Lê Thị H, Lê Trung K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Dương Đình Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN QUẢNG XƢƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 06/2023/HS-ST Ngµy: 21 - 3 - 2023 |
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
Toµ ¸n nHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG, TØnh Thanh ho¸
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Huấn
Ông Lê Sỹ Quyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hiền - Là thư ký tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/TLST- HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023QĐXXST- HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
1.Nguyễn Thị G, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số nhà 02/11, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Cao Thị H; chồng: Cao Văn N (hiện đang chấp hành án phạt tù) có 02 con. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 02 ngày 25/01/2018 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong bản án vào ngày 07/3/2019. Đã được xóa án tích. Ngày 19/9/2018 Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tạm giữ từ ngày 13/8/2022 đến ngày 19/8/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị H, sinh năm 1991; Nơi thường trú: phố M, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện tại: thôn N, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa. trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Lê Thị Mai A; chồng: có chung sống với anh Lê Văn Ng nhưng không đăng ký kết hôn, có 02 con. Tiền án: Bản án số 94 ngày 07/11/2012 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chưa chấp hành xong phần án phí, bồi thường, truy thu (chưa được xóa án tích). Bản án số 254 ngày 20/9/2019 Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2020, chấp hành xong phần dân sự ngày 10/9/2020 (chưa được xóa án tích).Tiền sự: không. Tạm giữ từ ngày 04/7/2022 đến ngày 09/7/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi), trong thời gian cấm đi khỏi nơi cư trú H tiếp tục phạm tội mới và bị tạm giữ từ ngày 11/8/2022, đến ngày 17/8/2022 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa
3. Lê Trung K, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số nhà 1480, tổ dân phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Nông Thị H; vợ: Nguyễn Phượng Q (đã ly hôn) có 02 con. Tiền án: Bản án số 103 ngày 31/5/2010 Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/10/2012, chưa thi hành xong phần án phí, phạt bổ sung. Chưa được xóa án tích. Bản án số 259 ngày 19/9/2013 Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2020, đã thi hành xong phần dân sự ngày 07/7/2015. Chưa được xóa án tích. Tiền sự: Ngày 20/10/2022 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hiện đang được tạm đình chỉ thi hành quyết định. Nhân thân: Bản án số 120 ngày 25/5/2006 Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2007. Đình chỉ thi hành án dân sự ngày 22/9/2011.Tạm giữ: không; tạm giam từ ngày 23/11/2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Có mặt tại phiên tòa.
4. Dƣơng Đình Q, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn Ni, xã Qu, huyện Q, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn V và bà Đỗ Thị H; vợ: chưa. Tiền án, tiền sự: chưa. Tạm giữ: không. Tạm giam từ ngày 11/8/2022. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Trần Trọng T - sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
- Nguyễn Trọng T - sinh năm 1991 Địa chỉ: Số nhà 01/228, phường Q. thành phố, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đối với Lê Thị H:
* Khoảng 11h ngày 04/7/2022 Lê Thị H bắt xe buýt đi từ nhà tại thôn N, xã Q, huyện Q đến ngã tư đường tránh thuộc phường Q, TP. T. Tại đây, H mua được 07 viên hồng phiến với giá 400.000đ của một người đàn ông (không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau đó H về nhà và sử dụng hết 01 viên hồng phiến, còn lại 06 viên hồng phiến H cất trong túi áo phải đang mặc, dự định để bán cho đối tượng nghiện kiếm lời. Đến 16h40’cùng ngày khi H đang ở nhà (tại thôn N, xã Q, Quảng Xương) thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo phải H đang mặc 06 viên nén hình tròn màu hồng, đường kính khoảng 0,5cm; thu giữ trong túi áo trái H đang mặc 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen. Khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại thôn Ni, xã Q, huyện Q, Cơ quan CSĐT không phát hiện thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 2374/KL-KTHS ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: 06 viên nén hình tròn màu hồng, đường kính khoảng 0,5cm thu giữ của Hương là ma tuý, có tổng khối lượng 0,547 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 09/7/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 BLHS và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” do Hương đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Quá trình điều tra Lê Thị H khai, trước khi bị bắt quả tang Lê Văn D (SN1989 ở thôn T, xã Q, huyện Q) đến gặp Hương hỏi mua 03 viên hồng phiến giá 300.000đ. Do chưa có hồng phiến để bán nên H bảo D đưa trước tiền cho H rồi chiều quay lại lấy hồng phiến. Sau đó H đã mua 07 viên hồng phiến về để sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang như trên. Cơ quan CSĐT đã triệu tập làm việc và tổ chức cho Lê Thị H đối chất với Lê Văn D, nhưng D phủ nhận việc đã đến hỏi và đưa tiền mua ma túy cho H, ngoài lời khai của H không có tài liệu nào khác chứng minh việc D đưa tiền mua ma túy của Hương. Do đó chưa đủ cơ sở để xử lý đối với Lê Văn D.
Đối với đối tượng đã bán ma tuý hồng phiến cho Lê Thị H vào ngày 04/7/2022 tại ngã tư đường tránh thuộc phường Q, thành phố T, do H không biết tên tuổi, địa chỉ, không nhớ được đặc điểm nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định.
* Đến ngày 11/8/2022, H tiếp tục thực hiện hành vi mua ma túy của Nguyễn Thị G về bán cho đối tượng nghiện để kiếm lời, cụ thể:
Khoảng 14h20 ngày 11/8/2022, H gọi điện thoại cho Nguyễn Thị G để hỏi mua Heroine nhằm mục đích bán cho đối tượng nghiện kiếm lời, G đồng ý và bảo Hương lên nhà G ở phường Đ, thành phố T. H đi bộ từ nhà Hương (tại thôn N, xã Q, huyện Q) ra đầu ngõ tiếp giáp với Quốc lộ 1A để tìm xe đến nhà Giang mua hêrôine về bán kiếm lời. Tại đây, H gặp Trần Trọng T (SN1993, thường trú tại tổ 18, ấp 2, xã , huyện N, tỉnh Đ, hiện đang ở xã Q, huyện Q) điều khiển xe mô tô Wave RSX, BKS 36B5-668.09 đi đến gặp H để hỏi mua 01 gói heroine giá 200.000đ về sử dụng. Do chưa có heroine để bán nên H bảo T đưa trước tiền cho H và chở H đến thành phố T mua ma tuý để bán cho Tuấn. Tuấn đồng ý đưa số tiền 200.000đ cho H. Khi cả hai chuẩn bị đi thì có một người đàn ông (H và T không biết tên tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô đến hỏi mua ma tuý của H, H bảo người này đưa trước cho H 200.000đ và đứng chờ H tại đây, người này đồng ý và đưa số tiền 200.000đ cho H (khi người đàn ông này trao đổi với H thì T không nghe và cũng không biết người này trao đổi với Hương chuyện gì). Sau đó, H bảo T lái xe chở H lên khu vực Cầu Bố thuộc phường Đ, thành phố T. Khi đến nơi, Tuấn đứng chờ ở ngoài đường, còn H một mình đi bộ vào một con ngõ trên đường K, phường Đ, thành phố T (lối vào nhà của Nguyễn Thị G). H đứng trước nhà G gọi cửa và bảo G bán cho H 01 gói heroine với giá 300.000đ. G từ trong nhà đi ra cửa nhận số tiền 300.000đ từ H qua ô cửa, sau đó G bán cho H 01 gói heroine. Mua ma tuý của G xong, H quay lại chỗ Tuấn đang chờ và bảo T chở H về. Khi T và H đi đến gần một nghĩa trang dọc Quốc lộ 1A (thuộc thị trấn T, huyện Q) thì H bảo T dừng xe chờ H đi vệ sinh. H xuống xe và đi vào trong nghĩa trang rồi chia số heroine vừa mua vào trong 04 gói giấy. Chia xong, H cất đi 03 gói heroine và bán cho T 01 gói heroine, T cất gói heroine vừa mua của H vào túi quần của mình rồi tiếp tục điều khiển xe chở H về thôn N, xã Q, huyện Q. Khi T và H gần về đến nơi thì gặp Tổ công tác Công an huyện Q yêu cầu hai đối tượng dừng xe để kiểm tra, lúc này H thả từ tay trái của H xuống dưới mặt đường 03 gói giấy gồm: 01 gói giấy trắng dạng giấy ô ly kích thước khoảng (3x1)cm; 01 gói giấy trắng dạng giấy ô ly kích thước khoảng (2x1)cm; 01 gói giấy màu vàng trắng kích thước khoảng (1,5x1)cm.
Tổ công tác yêu cầu H nhặt lên để kiểm tra, tại chỗ H khai nhận 03 gói giấy trên chứa heroine mà H vừa mua được để mang về bán kiếm lời. Tiến hành kiểm tra người H, tổ công tác phát hiện thu giữ của H số tiền 100.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen. Tiến hành kiểm tra người Trần Trọng T tổ công tác phát hiện trong túi quần trái T đang mặc có 01 gói giấy màu vàng trắng kích thước khoảng (1,5x1)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng cục (đây là heroine T mua của H nhằm mục đích sử dụng). Đồng thời, tổ công tác thu giữ chiếc xe mô tô dán nhãn Wave RSX, gắn BKS 36B5-668.09 mà T đang điều khiển.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị H tại thôn N, xã Q, huyện Q, Cơ quan CSĐT không phát hiện thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 2766/KL-KTHS ngày 16/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận đối với số ma túy thu giữ của Lê Thị H:
- Chất rắn màu trắng dạng cục, thu giữ của Lê Thị H là ma tuý, có tổng khối lượng 0,376 gam, loại Heroine.
- Chất rắn màu trắng dạng cục, thu giữ của Trần Trọng T là ma tuý, có tổng khối lượng 0,042 gam, loại Heroine.
Đối với Trần Trọng T là đối tượng đã chở Lê Thị H đi mua ma tuý của Nguyễn Thị G và cất giấu trên người 0,042 gam heroine đã mua của H ngày 11/8/2022. Quá trình điều tra xác định ngoài số heroine H đã bán cho T thì T không biết mục đích cũng như lượng ma tuý H đã mua và đang cất giấu. Đồng thời khối lượng heroine T tàng trữ chưa đến 0,1 gam, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý hình sự đối với T mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã đưa số tiền 200.000đ cho Lê Thị H để mua ma tuý vào thời điểm Trần Trọng T chuẩn bị chở H đến phường Đ, thành phố T ngày 11/8/2022, do H và T đều không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, triệu tập làm việc.
Đối với Nguyễn Thị :
Trên cơ sở lời khai của H, ngày 11/8/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị G tại số nhà 02/11 đường K, phường Đ, thành phố T, phát hiện và thu giữ:
- Trong ngăn thứ nhất (từ trên xuống dưới) của chiếc bàn đặt trong phòng khách, có một hộp giấy cứng hình hộp chữ nhật màu xanh đen có: 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, kích thước khoảng (13x8)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi heroine); 04 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (8x5) cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi heroine);
- Trong ngăn thứ nhất (từ trên xuống dưới) của chiếc bàn đặt trong phòng khách, phát hiện thu giữ: 01 mảnh giấy trắng ô ly hình chữ nhật, kích thước khoảng (30x10)cm; 01 lưỡi dao lam màu trắng; 01 chiếc kéo cán nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu đen, kích thước khoảng (12x8)cm; 17 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 30 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 04 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền xanh, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 03 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 20 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (11x7)cm.
- Trong ngăn thứ hai (từ trên xuống dưới) của chiếc bàn đặt trong phòng khách, phát hiện, thu giữ: 01 gói giấy màu trắng, dạng giấy ô ly, kích thước khoảng (2x1)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng ngà (nghi heroine); 01 cân điện tử màu đen, kích thước khoảng (12x8)cm; 02 cóng thuỷ tinh;
- Trong túi xách màu nâu đặt trên ghế sofa trong phòng khách, phát hiện, thu giữ: 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu trắng, có số seri X2H43QNN2L, số IMEI: 358863666176069, gắn sim số 0979554868; Số tiền 2.640.000 đồng;
- Trên nền nhà phòng ngủ, gần vị trí chân đuôi giường (hướng Đông của phòng ngủ), phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, kích thước khoảng (11x7)cm, bên trong chứa 04 gói giấy màu trắng, dạng giấy ô ly, đều kích thước khoảng (2x1)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi heroine);
- Trên chiếc giường đặt trong phòng ngủ, phát hiện thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng hồng, số seri F2LSJ09WHFYP, số IMEI 359186070306778, gắn sim số 0971203636;
- Trong túi xách màu hồng đặt trước cửa nhà vệ sinh, phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, kích thước khoảng (9x6)cm, bên trong chứa 09 gói giấy màu trắng, dạng giấy ô ly, đều có kích thước khoảng (2x1)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi heroine); 12 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 10 lọ nước cất chưa qua sử dụng;
- Trong hộp giấy cứng hình hộp chữ nhật màu da cam, kích thước khoảng (13x12x3)cm đặt trên nóc tủ nhựa bốn cánh ở phía đuôi giường trong phòng ngủ (hướng Đông Nam của phòng), phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, kích thước khoảng (11x7)cm, bên trong đựng 05 gói giấy trắng, dạng giấy ô ly, đều có kích thước khoảng (2x1)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi heroine);
- Trong ngăn kéo thứ ba từ trên xuống của tủ nhựa ở góc phòng, đặt cạnh đầu giường (hướng Bắc của phòng ngủ), phát hiện thu giữ: 01 túi vải màu trắng, bên trong đựng 01 vật hình dạng súng bằng kim loại màu đen, có chiều dài khoảng 22cm, trên thân súng có ghi “No 871072”, trên báng súng ghi “PATENTED APR.20, 1897, SEPT.9,1902”, không có hộp tiếp đạn;
- Trong ngăn kéo thứ hai từ trên xuống của chiếc tủ nhựa đặt cạnh cửa nhà vệ sinh, (hướng bắc của phòng ngủ) phát hiện, thu giữ: Số tiền 50.000.000 đồng;
- Tại phòng gác xép, trên nền nhà ở phía đuôi giường (hướng Nam của phòng), phát hiện thu giữ: 01 chai nhựa màu trắng trong suốt dán nhãn ICE, miệng chai gắn 01 ống nhựa màu tím và 01 ống nhựa màu xanh; 01 cóng thuỷ tinh.
Tại bản Kết luận giám định số 2800/KL-KTHS ngày 18/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận đối với số ma tuy thu giữ của Nguyễn Thị G:
- Chất rắn màu trắng trong 05 túi nilon, thu giữ tại phòng khách của Nguyễn Thị G là ma tuý, có tổng khối lượng 13,053 gam, loại Heroine;
- Chất rắn màu trắng ngà trong gói giấy, thu giữ tại phòng khách của Nguyễn Thị G là ma tuý, có tổng khối lượng 0,088 gam, loại Heroine;
- Chất rắn màu trắng trong 04 gói giấy, thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Thị G là ma tuý, có tổng khối lượng 0,397 gam, loại Heroine;
- Chất rắn màu trắng trong 09 gói giấy, thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Thị Giang là ma tuý, có tổng khối lượng 1,310 gam, loại Heroine;
- Chất rắn màu trắng trong 05 gói giấy, thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Thị Giang là ma tuý, có tổng khối lượng 1,154 gam, loại Heroine.
Tổng khối lượng ma túy G tàng trữ ngày 11/8/2022 là 16,002 gam, loại Heroine. Toàn bộ số ma túy ngày G tàng trữ để bán cho các con nghiện kiếm lời.
Bản Kết luận giám định số 3022/KL-KTHS ngày 06/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Khẩu súng ngắn thu giữ khi khám xét nơi ở của G là loại súng bắn đạn dạng bi bằng áp lực của khí (hơi), thuộc danh mục đồ chơi nguy hiểm bị cấm , không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng không còn hơi.
* Quá trình điều tra vụ án, xác định Nguyễn Thị G ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị H vào ngày 11/8/2022 như trên, Nguyễn Thị G còn 02 lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
- Khoảng 5 giờ sáng ngày 23/7/2022, khi Giang đang ở nhà thì Nguyễn Trọng T (SN1991 ở số nhà 01/228, phường Q, thành phố T) đến gặp G để mua 01 gói heroine. G đồng ý và bán cho T 01 gói heroine lấy 200.000đ. Sau đó, T mang gói heroine về nhà để chuẩn bị sử dụng thì bị Công an phường Q, thành phố T phát hiện, lập biên bản thu giữ vào hồi 5h40’ cùng ngày. Đến 9h ngày 23/7/2022, Nguyễn Thị G đã đến trụ sở Công an thành phố T đầu thú, khai nhận hành vi bán ma tuý cho T như trên, đồng thời G giao nộp số tiền 200.000đ G bán ma tuý cho T mà có. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của G tại số nhà 02/1, phường Đ, thành phố T, phát hiện thu giữ tại ngăn bàn trong phòng khách 01 cân điện tử màu đen và 05 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước mỗi gói khoảng (2x1)cm, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (G khai nhận đây đều heroine G đang cất giấu để bán kiếm lời).
Tại bản Kết luận giám định số 2550/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:
+ Chất bột màu trắng Công an phường Q, thành phố Th thu giữ của Trần Trọng T là ma tuý, có tổng khối lượng 0,094 gam, loại Heroine.
+ Chất bột màu trắng, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Thị G là ma tuý, có tổng khối lượng 0,218 gam, loại Heroine.
Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Thị G mua bán ngày 23/7/2022 là 0,312 gam, loại heroine.
Đối với Nguyễn Trọng T đã có hành vi tàng trữ 0,094 gam heroine, là số ma tuý T mua của Nguyễn Thị G ngày 23/7/2022. Do khối lượng heroine T tàng trữ chưa đến 0,1 gam. Về nhân thân T không có tiền án, tiền sự về ma tuý. Vì vậy ngày 16/8/2022 Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là phù hợp.
- Khoảng 14h50 ngày 10/8/2022, Dương Đình Q gọi điện thoại cho G để hỏi mua 03 gói heroine giá 600.000đ. G đồng ý và hẹn gặp Q tại khu vực C, thành phố T. Sau đó, Q một mình đi xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS 36B8-581.80 đến điểm hẹn rồi Q chuyển khoản số tiền 600.000đ từ số tài khoản 19036755316011 (ngân hàng TechcomBank) của Q đến số tài khoản 0979554868 (ngân hàng MB) của G. Chuyển tiền mua ma tuý xong, Q gọi điện báo cho G biết. Sau đó, G cầm 03 gói heroine đi bộ từ nhà ra Cầu B và bán cho Q. Mua được ma tuý, Q mang về sử dụng hết.
Ngày 01/8/2022 Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Trong thời gian tại ngoại, G tiếp tục có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý vào ngày 11/8/2022 như đã nêu trên và bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q khởi tố. Vì vậy, ngày 26/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã ra quyết định chuyển vụ án từ Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q để nhập vụ án và tiếp tục điều tra theo quy định.
Đối với nguồn gốc số ma tuý Nguyễn Thị G cất giấu và bán cho các đối tượng nghiện vào 03 lần phạm tội trên, G khai báo đã mua của Hoàng Quốc Đ (SN1974 ở 13, phường Đ, thành phố T) vào trưa ngày 19/7/2022 tại gầm cầu vượt xã Q, thành phố T. Cơ quan CSĐT đã triệu tập làm việc và tổ chức cho Nguyễn Thị Gi đối chất với Hoàng Quốc Đ, nhưng Đ phủ nhận việc đã bán ma tuý cho G, ngoài lời khai của Giang không có tài liệu nào khác chứng minh nguồn gốc ma túy này. Do đó chưa đủ cơ sở để xử lý đối với Hoàng Quốc Đ.
Đối với Dƣơng Đình Q và Lê Trung K:
* Vào khoảng 18h10’, ngày 11/8/2022, tổ công tác Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang Dương Đình Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tại tầng 2 một kiot đối diện cổng chợ Soto, thuộc thôn T, xã T, huyện Q. Quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: khoảng 05h ngày 11/8/2022, Lê Trung K đến khu vực Cầu T thuộc phường Đ, thành phố T để tìm mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, K mua được 05 gói heroine giá 800.000đ của một người đàn ông (K không biết tên tuổi, địa chỉ). Sau đó K mang ma tuý về nhà tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố T và sử dụng hết 03 gói heroine. Đến khoảng 14h50’ cùng ngày, Dương Đình Q dùng tài khoản Zalo liên lạc với Kihỏi mua 02 gói heroine giá 400.000 đồng, K đồng ý và bảo Q đến nhà K. Sau đó, Q đi xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS 36B8-581.80 đến gần nhà K và dựng xe bên ngoài. Q đi vào trong phòng khách gặp K, đồng thời Q chuyển khoản số tiền 400.000đ từ số tài khoản 19036755316011 (ngân hàng TechcomBank) của Q đến số tài khoản 1013736986 (ngân hàng VietcomBank) của K. Thấy điện thoại của mình thông báo tài khoản ngân hàng đã nhận được số tiền 400.000đ nên K lấy từ trong túi quần đang mặc ra 02 gói heroine rồi bán cho Q. Sau đó, Q cầm ma tuý đi ra ngoài lên xe đi về khu vực chợ Soto, thuộc thôn T, xã T, huyện Q để sử dụng, thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. Tổ công tác thu giữ của Q 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu ghi và 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, gắn BKS 36B8-581.80. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Đình Q tại thôn N, xã Q, huyện Q, Cơ quan CSĐT không phát hiện, thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 2776/KL-KTHS ngày 16/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục, thu giữ của Dương Đình Q là ma tuý, có tổng khối lượng 0,212 gam, loại Heroine.
Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Lê Trung K tại khu vực Cầu T thuộc phường Đ, TP. T, do K không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định.
* Đối với vật chứng và tang vật của vụ án gồm:
- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là mặt hàng Nhà nước cấm sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H ngày 04/7/2022; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen dạng bàn phím bấm thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H ngày 11/8/2022; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu ghi; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, gắn BKS 36B8-581.80 (thu giữ khi bắt quả tang Dương Đình Q ngày 11/8/2022, là xe của Quang); 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng hồng (thu giữ khi khám xét Nguyễn Thị Gi ngày 13/8/2022) là phương tiện các bị can thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 túi vải màu trắng cùng 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen là đồ chơi nguy hiểm nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01chai nhựa màu trắng trong suốt dán nhãn ICE, miệng chai gắn 01 ống nhựa màu tím và 01 ống nhựa màu xanh (thu giữ khi khám xét Nguyễn Thị Giang ngày 13/8/2022); 01 cân điện tử dạng cân tiểu ly màu đen, 01 mảnh giấy trắng ô ly hình chữ nhật, kích thước khoảng (30x10)cm; 01 lưỡi dao lam màu trắng; 01 chiếc kéo cán nhựa màu đen; 01 cân điện tử màu đen, kích thước khoảng (12x8)cm; 29 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 40 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 04 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền xanh, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 03 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 20 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (11x7)cm; 03 cóng thuỷ tinh; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt dán nhãn ICE, miệng chai gắn 01 ống nhựa màu tím và 01 ống nhựa màu xanh (thu giữ khi khám xét Nguyễn Thị G ngày 13/8/2022); 01 cân điện tử màu đen (thu giữ khi khám xét nhà Giang ngày 23/7/2022); là công cụ để chia và sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy,
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 36B5-668.09 thu giữ của Trần Trọng T tại thời điểm bắt quả tang Lê Thị H ngày 11/8/2022. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của ông Trần Trọng D SN1971 ở thôn 1, xã Q, huyện Q (bố đẻ của Trần Trọng T). Ngày 11/8/2022, T sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma tuý, ông D không biết và không tham gia cùng. Vì vậy, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trả chiếc xe trên cho ông Trần Trọng D là phù hợp.
- Số tiền 2.640.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà của G; 100.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang H ngày 11/8/2022; 200.000đ G giao nộp khi đầu thú ngày 23/7/2022 là tiền thu được do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 50.000.000 đồng tạm giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Thị G ngày 13/8/2022. Quá trình điều tra xác định số tiền 50.000.000 đồng trên là của bà Cao Thị H (SN1966 ở thôn 4, xã Q, huyện Q, là mẹ của G) đưa cho G số tiền này để nhờ G đóng tiền học cho cháu, không liên quan đến hành vi phạm tội của G, vì vậy Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trả lại số tiền này cho bà Cao Thị H là phù hợp.
- Đối với số tiền các bị cáo bán ma túy mà có gồm: 300.000đ của G bán ma túy cho H ngày 11/8/2022; 600.000đ của G bán ma túy cho Q này 10/8/2022 (Q chuyển vào tài khoản ngân hàng của G); 400.000đ của K bán ma túy cho Q ngày 11/8/2022 (Q chuyển vào tài khoản ngân hàng của K), là tiền thu lời bất chính nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSQX ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá truy tố Nguyễn Thị G về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo b, i khoản 2 Điều 251 BLHS; Lê Thị H, Lê Trung K về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo q khoản 2 Điều 251 BLHS; Dương Đình Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá hoá luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng
1. Nguyễn Thị G: điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.
2. Lê Thị H: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
3. Lê Trung K: điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
4. Dương Đình Q: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Bị cáo G hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh lao phổi; bị cáo H đang nuôi con nhỏ; bị cáo K phạm tội thu lời bất chính không lớn; bị cáo Q phạm tội không có tính chất vụ lợi, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Đối với số tang vật thu được đã được nêu trong cáo trạng đề nghị tiêu hủy số ma túy và một số dụng cụ để sử dụng ma túy. Tịch thu sung ngân sách nhà nước điện thoại thu được của các bị cáo. Tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe máy của bị cáo Q. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo phạm tội mà có.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời sau cùng đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tốtụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Tại phiên toà hôm nay: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, người làm chứng, tang vật thu được trong vụ án, cùng các chứng cứ tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh:
- Nguyễn Thị G đã có 03 lần bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện tại Phường Đ, TP T, cụ thể: Ngày 23/7/2022 bán trái phép 01 gói heroine trọng lượng 0,094 gam cho Trần Trọng T lấy 200.000đ. Ngày 10/8/2022, bán trái phép 03 gói heroine cho Dương Đình Q lấy 600.000đ. Ngày 11/8/2022, bán trái phép 01 gói heroine trọng lượng 0,418 gam herioine cho Lê Thị H lấy 300.000đ; Cất giấu 16,22 gam Heroine (gồm 0,218 gam heroine thu giữ ngày 23/7/2022 và 16,002 gam heroine thu giữ ngày 13/8/2022), nhằm mục đích bán trái phép. Tổng trọng lượng ma túy G mua bán là 16,732 gam Heroine.
- Lê Thị H đã có hành vi bán 01 lần chất ma túy ngày 11/8/2022 loại heroine trọng lượng 0,042gam cho Trần Trọng T lấy 200.000đ và cất giấu 0,376 gam Heroin ngày 11/8/2022, 0,547 gam Methamphetamine vào ngày 04/7/2022 nhằm mục đích bán trái phép. Tổng trọng lượng ma túy Hương mua bán trái phép là 0,965gam (0,418 gam Heroine, 0,547 gam Methamphetamiên).
- Lê Trung Kiên đã có hành vi 01 lần bán trái phép 02 gói heroine trọng lượng 0,212 gam cho Dương Đình Q lấy 400.000đ tại tổ dân phố T, phường Q, TP. T ngày 11/8/2022.
- Dương Đình Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,212 gam Heroine, bị phát hiện bắt quả tang ngày 11/8/2022 tại thôn T, xã T, huyện Q.
. Bị cáo Nguyễn Thị G 03 lần bán trái phép chất ma túy và tàng trữ 16,22gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời, tổng trọng lượng ma túy mua bán là 16,732 gam Heroine, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251. Bị cáo Lê Thị H có 02 tiền án chưa được xóa án tích, có một lần bán trái phép chất ma túy Heroine trọng lượng 0,042gam và một lần cất giấu 0,923 gam ma túy nhằm mục đích bán trái phép đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Bị cáo Lê Trung K, có 02 tiền án chưa được xóa án tích, 01 lần bán trái phép 0,212 gam Heroine đã đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Bị cáo Dương Đình Q tàng trữ trái phép 0,212 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Nên tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như cáo trạng đã nêu là có căn cứ, phù hợp với qui định của pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của Nguyễn Thị G, Lê Thị H, Lê Trung K có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt đối với bị cáo G được qui định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS; tội phạm và hình phạt đối với bị cáo H và bị cáo K được qui định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS. Hành vi của Dương Đình Q có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
. Tính chất vụ án: Tội phạm về ma túy là những tội phạm nguy hiểm, nó đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma tuý không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe, phẩm giá con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo đã ngang nhiên mua ma túy vÒ trữ sẵn để bán kiếm lời và tàng trữ để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do vậy phải được xử lý nghiêm minh
.Về nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Các bị cáo là những người cã nhËn thøc, nh ng kh«ng chÞu lµm ¨n lao ®éng chÝnh ®¸ng, sèng thiÕu tr¸ch nhiÖm víi b¶n th©n, gia ®×nh vµ x· héi, lao vào con đường mua bán trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến phạm tội.
. Bị cáo G có nhân thân xấu nay lại lao vào con đường phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với số lượng tương đối nhiều. Như đã phân tích ở trên bị cáo phải chịu các tình tiết định khung hình phạt được qui định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS nên mức án của bị cáo là cao nhất.
. Bị cáo H, K đều có nhân thân xấu, có 02 tiền án chưa xóa (bị cáo Kiên nhân thân đã từng bị xét xử rất nhiều lần về tội Mua bán trái phép chất ma túy, có một tiền sự. Bị cáo H đang trong thời gian tại ngoại chờ xử lý lại tiếp tục có hành vi phạm tội), điều này chứng tỏ các bị cáo không chịu cải sửa, xem thường pháp luật, lần này phạm tội thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm. Bị cáo H số lượng ma túy mua bán nhiều hơn bị cáo K, nên mức án của H sẽ cao hơn bị cáo Kiên là phù hợp và mỗi bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
. Bị cáo Q nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội tàng trữ ma túy theo với số lượng ít, vì vậy bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi của mình.
. Với tÝnh chÊt cña lo¹i téi ph¹m vÒ ma tuý, hµnh vi ph¹m téi vµ nh©n th©n cña từng bÞ c¸o, th× viÖc c¸ch ly các bÞ c¸o khái x· héi mét thêi gian lµ cÇn thiÕt, ®Ó c¶i t¹o, gi¸o dôc các bÞ c¸o vµ nh»m r¨n ®e phßng ngõa chung cho x· héi. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị các cáo một phần vì sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo G sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an thành phố Thanh Hóa đầu thú ngày 23/7/2022, theo tài liệu trong hồ sơ hiện bị cáo đang bị bệnh lao phổi, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương), đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Giang được qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo G hoàn cảnh khó khăn, bị bệnh lao phổi; bị cáo H đang nuôi con nhỏ; bị cáo Kiên phạm tội thu lời bất chính không lớn, bị cáo Quang phạm tội không có tính chất vụ lợi, nghĩ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
. Về vật chứng:
. Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Thị G, Lê Thị H, Lê Đình K, Dương Đình Q đã được niêm phong bằng 05 phong bì của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh T (là các mẫu vật còn lại sau giám định), đây là chất ma túy nhà nước cấm lưu lưu hành sử dụng, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS và điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu tiêu hủy.
. Đối với 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen dài 25cm, trên súng có ghi “No871072”, trên báng súng có ghi “PATENTED APR.20,1897, SEPT:9,1902”, không có hộp tiếp đạn. Qua giám định súng thuộc danh mục đồ chơi nguy hiểm cấm, không phải vũ khí quân dụng. Đây là đồ vật nguy hiểm, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS và điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu tiêu hủy.
. Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H ngày 04/7/2022; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen dạng bàn phím bấm thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H ngày 11/8/2022; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu ghi; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng hồng (thu giữ khi khám xét Nguyễn Thị G ngày 13/8/2022) là phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi liên lạc để mua bán ma túy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước;
. Đối 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, gắn BKS 36B8-581.80 xe đã cũ (thu giữ khi bắt quả tang Dương Đình Q ngày 11/8/2022), đây là xe của bị cáo Q sử dụng phương tiện đi mua ma túy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước;
. Đối với: 01 mảnh giấy trắng ô ly hình chữ nhật, kích thước khoảng (30x10)cm; 01 lưỡi dao lam màu trắng; 01 chiếc kéo cán nhựa màu đen; 03 cân điện tử màu đen, kích thước khoảng (12x8)cm; 29 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 40 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 04 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền xanh, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 03 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 20 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (11x7)cm; 03 cóng thuỷ tinh; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt dán nhãn ICE, miệng chai gắn 01 ống nhựa màu tím và 01 ống nhựa màu xanh, đây là công cụ chia và sử dụng ma túy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS và điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu tiêu hủy. (Toàn bộ tang vật nêu từ mục 6.1 đến mục 6.5 hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2023)
. Đối với số tiền 2.640.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà của Giang; 100.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Hương ngày 11/8/2022; 200.000đ G giao nộp khi đầu thú ngày 23/7/2022 là tiền thu được do phạm tội mà có, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước; (hiện nay số tiền đang lưu giữ tại thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên lai thu số 0005060 và 000561 ngày 14/02/2023.
. Đối với số tiền các bị cáo bán ma túy mà có gồm: 300.000đ của G bán ma túy cho H ngày 11/8/2022; 600.000đ của G bán ma túy cho Q ngày 10/8/2022 (Q chuyển vào tài khoản ngân hàng của G); 400.000đ của Kiên bán ma túy cho Q ngày 11/8/2022 (Q chuyển vào tài khoản ngân hàng của K), đây là tiền thu lời bất chính, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu từ G 900.000đ; K 400.000đ để thu sung nộp ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS (đối với bị cáo G); điểm q khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo Hương và bị cáo K); điểm c khoản 1 Điều 249 (dối với bị cáo Q); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 (đối với các bị cáo); khoản 2 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo G). Điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Nguyễn Thị G, Lê Thị H, Lê Trung K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Dương Đình Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1 Xử phạt: Nguyễn Thị G 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/8/2022
2. Xử phạt: Lê Thị H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2022 (nhưng được trừ 06 ngày tạm giữ trước, từ ngày 04/7/2022 đến 09/7/2022)
3. Xử phạt: Lê Trung K 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/11/2022
4. Xử phạt: Dương Đình Q 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2022
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy (là các mẫu vật còn lại sau giám định) đã được niêm phong bằng 05 phong bì của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Thanh Hóa.
- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen dài 25cm, trên súng có ghi “No871072”, trên báng súng có ghi “PATENTED APR.20,1897, SEPT:9,1902”, không có hộp tiếp đạn.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen dạng bàn phím bấm thu giữ khi bắt quả tang Lê Thị H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu ghi; 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng hồng (thu giữ khi khám xét Nguyễn Thị G)
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, gắn BKS 36B8-581.80
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy trắng ô ly hình chữ nhật, kích thước khoảng (30x10)cm; 01 lưỡi dao lam màu trắng; 01 chiếc kéo cán nhựa màu đen; 03 cân điện tử màu đen, kích thước khoảng (12x8)cm; 29 chiếc bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 40 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 04 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền xanh, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 03 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (3x3)cm; 20 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, đều có kích thước khoảng (11x7)cm; 03 cóng thuỷ tinh; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt dán nhãn ICE, miệng chai gắn 01 ống nhựa màu tím và 01 ống nhựa màu xanh.
Toàn bộ tang vật nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2023
- Tịch thu số tiền 2.940.000 đồng của bị cáo G và bị cáo H nộp ngân sách Nhà nước (hiện nay số tiền đang lưu giữ tại thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên lai thu số 0005060 và 000561 ngày 14/02/2023)
- Truy thu từ bị cáo G số tiền 900.000đ; bị cáo K số tiền 400.000đ để tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7, 7a ,9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
BÞ c¸o cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
N¬i nhËn
| - Các bÞ c¸o; - VKSND huyện Quảng Xương - C«ng an huyện Quảng Xương - THA DS huyện Quảng Xương - L u hå s¬. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Bïi ThÞ HuyÒn |